OPTADS360
ATNETWORK
ADS_ZUNIA
YOMEDIA
Banner-Video
IN_IMAGE

Hướng dẫn soạn Tìm hiểu về thơ lục bát

4,Tìm hiểu về thơ lục bát

Giúp mình với☺

  bởi Mai Đào 25/03/2019
ADMICRO/lession_isads=0

Câu trả lời (1)

  • 'Lục bát' là 'sáu tám' vì theo thể thức, lối thơ này bao gồm cứ một câu sáu chữ rồi đến một câu tám chữ. Thông thường, bài thơ mở đầu bằng câu sáu chữ và kết thúc bằng câu tám chữ.

    1. Khuôn khổ của thơ lục bát.

    Một bài thơ lục bát không bị giới hạn bởi số câu trong bài. Bài thơ có thể chỉ bao gồm hai câu nhưng cũng có thể kéo dài hàng ngàn câu như Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du với 3254 câu, tức 1627 câu lục và 1627 câu bát.


    2. Luật bằng trắc trong thể lục bát

    Một bài thơ lục bát bao gồm một hoặc nhiều cặp các câu thơ lục bát mà trong đó, mỗi cặp thơ tuân theo quy luật sau đây (b = bằng; t = trắc)

    - Câu lục: b B t T b B
    - Câu bát: b B t T b B t B

    Những chữ viết hoa bắt buộc phải theo đúng quy luật bằng trắc. Ngược lại, những chữ còn lại không bắt buộc phải đúng luật. Vì vậy, thời trước, các cụ thường dùng quy luật thơ Đường 'nhất, tam, ngũ bất luận; nhị tứ lục phân minh' để ám chỉ luật thơ lục bát (câu này không nhắc đến chữ thứ bẩy, tức chữ cuối trong mỗi câu vì theo luật thơ Đường, các chữ thứ bẩy bắt buộc phải 'phân minh'. Đối với thơ lục bát, chúng ta chỉ cần nhớ 'chẫn bó buộc, lẻ tự do' là đủ.

    Hai câu sau đây trong truyện Kiều theo đúng hoàn toàn các âm bằng trắc nêu trên:

     

    Long lanh đáy nước in trời
    Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng

     

    Ngược lại, trong hai câu sau, cũng trong truyện Kiều, tất cả các chữ lẻ của cả câu lục lẫn câu bát đều ngược lại với âm bằng trắc liệt kê ở trên. Sự kiện này không làm câu thơ bị sai luật vì như đã đề cập ở trên, âm bằng trắc của các chữ lẻ được tùy tiện:

     

    Được lời như cởi tấc son
    câu rong ruổi nước non quê người

     

    3. Cách gieo vần

    Cánh gieo vần trong thể lục bát như sau:

    - Chữ cuối của câu 'lục' phải cùng vần với chữ thứ sáu của câu 'bát' tiếp theo.
    - Chữ cuối của câu 'bát' phải cùng vần với chữ cuối của câu 'lục' kế tiếp.

    Thí dụ như trong bốn câu thơ sau của Bùi Giáng:

     

    Em về mấy thế kỷ sau
    Nhìn trăng có thấy nguyên mầu ấy không?
    Ta đi còn gửi đôi dòng
    Lá rơi có dội ở trong sương mù?

     

    Chữ 'sau' của câu lục thứ nhất vần với chữ 'mầu' của câu bát thứ nhất. Chữ 'không' của câu bát này lại vần với chữ 'dòng' của câu lục thứ hai, và chữ 'trong' của câu bát thứ hai.

    4. Luật về thanh

    Trong câu 'bát', tuy hai chữ thứ sáu và thứ tám đều là tiếng 'bằng', nhưng không được cùng một 'thanh'. Nếu chữ thứ sáu thuộc thanh 'phù bình' (chữ không có dấu) thì chữ thứ tám phải thuộc thanh 'trầm bình' (chữ với dấu huyền), hoặc ngược lại.

    Thí dụ: Bốn câu đầu trong bài 'Ngậm ngùi' của Huy Cận:

     

    Nắng chia nửa bãi chiều rồi
    Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu
    Sợi buồn con nhện giăng mau
    Em ơi hãy ngủ, anh hầu quạt đây...

     

    Trong câu thứ hai, 'đôi' là thanh phù bình (tiếng không dấu) và 'rầu' là thanh trầm bình (tiếng có dấu huyền). Trong câu thứ tư, 'hầu' là thanh trầm bình và 'đây' là thanh phù bình.

    5. Trường hợp đặc biệt: Ngoại lệ về âm bằng trắc của tiếng thứ hai và thứ tư trong câu 'lục'.

    Như đã nêu trên, trong câu 'lục', tiếng thứ hai phải là tiếng 'bằng' và tiếng thứ tư phải là tiếng 'trắc'. Tuy nhiên, khi nào câu 'lục' chia làm hai đoạn đều nhau (3/3), thì tiếng thứ hai có thể đổi thành 'trắc' và tiếng thứ tư thành 'bằng'. Chẳng hạn như những câu sau đây trong truyện Kiều:

    - Tiếng thứ hai là tiếng trắc thay vì tiếng bằng:

     

    Mai cốt cách, tuyết tinh thần
    Đau đớn thay / phận đàn bà
    Người quốc sắc, kẻ thiên tài
    Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh

     

    - Tiếng thứ tư đổi thành tiếng bằng:

     

    Tưởng bây giờ / là bao giờ

     

    - Tiếng thứ hai đổi thành trắc và tiếng thứ tư đổi thành bằng:

     

    Khi tựa gối, khi cúi đầu
    Khi khóe hạnh, khi nét ngài

     

    6. Lục Bát biến thể:

    'Biến thể' có nghĩa là thể thức được thay đổi. Có nhiều cách biến thể trong thơ lục bát:

    a. Biến thể vần bằng: thay đổi cách gieo vần ở câu Bát: Chữ cuối của câu lục cùng vần với chữ thứ thứ 'tư' của câu bát chứ không phải với chữ thứ 'sáu' như luật thông thường. Theo lối biến thể này, luật bằng trắc ở các chữ thứ hai và thứ sáu trong câu bát cũng phải thay đổi, tức là hai chữ này phải thuộc vần 'trắc' chứ không phải vần 'bằng' như trong luật gieo vần.

    Thí dụ như câu sau đây trong bài ca dao 'Tát nước':

     

    ... Áo anh sứt chỉ đã lâu
    Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng
    Khâu rồi anh sẽ trả công
    It nữa lấy chồng anh lại giúp cho...

     

    Chữ thứ tư trong câu 'bát' cuối cùng là chữ 'chồng' vần với chữ 'công' của câu 'lục' phía trên. Thêm nữa, chữ thứ hai, tức chữ 'nữa' và chữ thứ sáu, tức chữ 'lại', là các tiếng trắc thay vì tiếng bằng.

    b. Biến thể vần trắc: Chữ cuối của câu lục và chữ thứ sáu của câu bát cùng là âm trắc và hiệp vần với nhau. Thông thường, cách biến thể này chỉ được sử dụng trong hai câu dẫn nhập của bài. Những câu kế tiếp sẽ theo đúng luật thơ. Chẳng hạn như bài ca dao sau:

     

    Tò vò mà nuôi con nhện
    Đến khi nó lớn, nó quện nhau đi
    Tò vò ngồi khóc tỉ ti
    Nhện ơi nhện hỡi, mày đi đằng nào?

     

    Trong kho tàng ca dao, chúng ta cũng bắt gặp một số câu biến thể vần trắc gieo vần ở chữ thứ tư thay vì chữ thứ sáu trong câu bát:

     

    Nước ngược, anh bỏ sào ngược
    Anh chống chẳng được, anh bỏ sào xuôi

     

    c. Thay đổi số chữ trong các câu: Lối thay đổi này thường thấy trong các bài ca dao. Tuy số chữ trong mỗi câu ít hơn hoặc vượt khỏi số quy định, nhưng những câu thơ vẫn gói gém tinh thần của luật âm vận trong thơ lục bát:

     

    Em thuơng nhớ ai ngơ ngẩn bên đầu cầu
    Lược thưa em biếng chải, gương tầu em biếng soi
    Cái sập đá hoa em bỏ vắng không ngồi
    Vườn hoa em bỏ vắng để mặc người quay tơ...

     

    hoặc

     

    Em có yêu anh, tam tứ núi anh cũng trèo
    Ngũ lục sông anh cũng lội, thất bát cửu thập đèo anh cũng qua
    Chén son em ơi, nguyện với ông trăng già
    Càn khôn đưa lại để một nhà vui chung...

     

    Tuy số chữ trong các câu thay đổi, nhưng các chữ in đậm trong hai đoạn ca dao nêu trên vẫn theo đúng tinh thần vần và luật của thơ lục bát. Nếu bó buộc phải theo đúng quy luật, các đoạn này có thể được viết lại như sau:

     

    Thương ai ngơ ngẩn bên cầu
    Lược thưa biếng chải, gương tầu biếng soi
    Sập hoa bỏ vắng không ngồi
    Vườn hoa bỏ vắng mặc người quay to

    'Lục bát' là 'sáu tám' vì theo thể thức, lối thơ này bao gồm cứ một câu sáu chữ rồi đến một câu tám chữ. Thông thường, bài thơ mở đầu bằng câu sáu chữ và kết thúc bằng câu tám chữ.

    1. Khuôn khổ của thơ lục bát.

    Một bài thơ lục bát không bị giới hạn bởi số câu trong bài. Bài thơ có thể chỉ bao gồm hai câu nhưng cũng có thể kéo dài hàng ngàn câu như Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du với 3254 câu, tức 1627 câu lục và 1627 câu bát.


    2. Luật bằng trắc trong thể lục bát

    Một bài thơ lục bát bao gồm một hoặc nhiều cặp các câu thơ lục bát mà trong đó, mỗi cặp thơ tuân theo quy luật sau đây (b = bằng; t = trắc)

    - Câu lục: b B t T b B
    - Câu bát: b B t T b B t B

    Những chữ viết hoa bắt buộc phải theo đúng quy luật bằng trắc. Ngược lại, những chữ còn lại không bắt buộc phải đúng luật. Vì vậy, thời trước, các cụ thường dùng quy luật thơ Đường 'nhất, tam, ngũ bất luận; nhị tứ lục phân minh' để ám chỉ luật thơ lục bát (câu này không nhắc đến chữ thứ bẩy, tức chữ cuối trong mỗi câu vì theo luật thơ Đường, các chữ thứ bẩy bắt buộc phải 'phân minh'. Đối với thơ lục bát, chúng ta chỉ cần nhớ 'chẫn bó buộc, lẻ tự do' là đủ.

    Hai câu sau đây trong truyện Kiều theo đúng hoàn toàn các âm bằng trắc nêu trên:

     

    Long lanh đáy nước in trời
    Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng

     

    Ngược lại, trong hai câu sau, cũng trong truyện Kiều, tất cả các chữ lẻ của cả câu lục lẫn câu bát đều ngược lại với âm bằng trắc liệt kê ở trên. Sự kiện này không làm câu thơ bị sai luật vì như đã đề cập ở trên, âm bằng trắc của các chữ lẻ được tùy tiện:

     

    Được lời như cởi tấc son
    câu rong ruổi nước non quê người

     

    3. Cách gieo vần

    Cánh gieo vần trong thể lục bát như sau:

    - Chữ cuối của câu 'lục' phải cùng vần với chữ thứ sáu của câu 'bát' tiếp theo.
    - Chữ cuối của câu 'bát' phải cùng vần với chữ cuối của câu 'lục' kế tiếp.

    Thí dụ như trong bốn câu thơ sau của Bùi Giáng:

     

    Em về mấy thế kỷ sau
    Nhìn trăng có thấy nguyên mầu ấy không?
    Ta đi còn gửi đôi dòng
    Lá rơi có dội ở trong sương mù?

     

    Chữ 'sau' của câu lục thứ nhất vần với chữ 'mầu' của câu bát thứ nhất. Chữ 'không' của câu bát này lại vần với chữ 'dòng' của câu lục thứ hai, và chữ 'trong' của câu bát thứ hai.

    4. Luật về thanh

    Trong câu 'bát', tuy hai chữ thứ sáu và thứ tám đều là tiếng 'bằng', nhưng không được cùng một 'thanh'. Nếu chữ thứ sáu thuộc thanh 'phù bình' (chữ không có dấu) thì chữ thứ tám phải thuộc thanh 'trầm bình' (chữ với dấu huyền), hoặc ngược lại.

    Thí dụ: Bốn câu đầu trong bài 'Ngậm ngùi' của Huy Cận:

     

    Nắng chia nửa bãi chiều rồi
    Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu
    Sợi buồn con nhện giăng mau
    Em ơi hãy ngủ, anh hầu quạt đây...

     

    Trong câu thứ hai, 'đôi' là thanh phù bình (tiếng không dấu) và 'rầu' là thanh trầm bình (tiếng có dấu huyền). Trong câu thứ tư, 'hầu' là thanh trầm bình và 'đây' là thanh phù bình.

    5. Trường hợp đặc biệt: Ngoại lệ về âm bằng trắc của tiếng thứ hai và thứ tư trong câu 'lục'.

    Như đã nêu trên, trong câu 'lục', tiếng thứ hai phải là tiếng 'bằng' và tiếng thứ tư phải là tiếng 'trắc'. Tuy nhiên, khi nào câu 'lục' chia làm hai đoạn đều nhau (3/3), thì tiếng thứ hai có thể đổi thành 'trắc' và tiếng thứ tư thành 'bằng'. Chẳng hạn như những câu sau đây trong truyện Kiều:

    - Tiếng thứ hai là tiếng trắc thay vì tiếng bằng:

     

    Mai cốt cách, tuyết tinh thần
    Đau đớn thay / phận đàn bà
    Người quốc sắc, kẻ thiên tài
    Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh

     

    - Tiếng thứ tư đổi thành tiếng bằng:

     

    Tưởng bây giờ / là bao giờ

     

    - Tiếng thứ hai đổi thành trắc và tiếng thứ tư đổi thành bằng:

     

    Khi tựa gối, khi cúi đầu
    Khi khóe hạnh, khi nét ngài

     

    6. Lục Bát biến thể:

    'Biến thể' có nghĩa là thể thức được thay đổi. Có nhiều cách biến thể trong thơ lục bát:

    a. Biến thể vần bằng: thay đổi cách gieo vần ở câu Bát: Chữ cuối của câu lục cùng vần với chữ thứ thứ 'tư' của câu bát chứ không phải với chữ thứ 'sáu' như luật thông thường. Theo lối biến thể này, luật bằng trắc ở các chữ thứ hai và thứ sáu trong câu bát cũng phải thay đổi, tức là hai chữ này phải thuộc vần 'trắc' chứ không phải vần 'bằng' như trong luật gieo vần.

    Thí dụ như câu sau đây trong bài ca dao 'Tát nước':

     

    ... Áo anh sứt chỉ đã lâu
    Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng
    Khâu rồi anh sẽ trả công
    It nữa lấy chồng anh lại giúp cho...

     

    Chữ thứ tư trong câu 'bát' cuối cùng là chữ 'chồng' vần với chữ 'công' của câu 'lục' phía trên. Thêm nữa, chữ thứ hai, tức chữ 'nữa' và chữ thứ sáu, tức chữ 'lại', là các tiếng trắc thay vì tiếng bằng.

    b. Biến thể vần trắc: Chữ cuối của câu lục và chữ thứ sáu của câu bát cùng là âm trắc và hiệp vần với nhau. Thông thường, cách biến thể này chỉ được sử dụng trong hai câu dẫn nhập của bài. Những câu kế tiếp sẽ theo đúng luật thơ. Chẳng hạn như bài ca dao sau:

     

    Tò vò mà nuôi con nhện
    Đến khi nó lớn, nó quện nhau đi
    Tò vò ngồi khóc tỉ ti
    Nhện ơi nhện hỡi, mày đi đằng nào?

     

    Trong kho tàng ca dao, chúng ta cũng bắt gặp một số câu biến thể vần trắc gieo vần ở chữ thứ tư thay vì chữ thứ sáu trong câu bát:

     

    Nước ngược, anh bỏ sào ngược
    Anh chống chẳng được, anh bỏ sào xuôi

     

    c. Thay đổi số chữ trong các câu: Lối thay đổi này thường thấy trong các bài ca dao. Tuy số chữ trong mỗi câu ít hơn hoặc vượt khỏi số quy định, nhưng những câu thơ vẫn gói gém tinh thần của luật âm vận trong thơ lục bát:

     

    Em thuơng nhớ ai ngơ ngẩn bên đầu cầu
    Lược thưa em biếng chải, gương tầu em biếng soi
    Cái sập đá hoa em bỏ vắng không ngồi
    Vườn hoa em bỏ vắng để mặc người quay tơ...

     

    hoặc

     

    Em có yêu anh, tam tứ núi anh cũng trèo
    Ngũ lục sông anh cũng lội, thất bát cửu thập đèo anh cũng qua
    Chén son em ơi, nguyện với ông trăng già
    Càn khôn đưa lại để một nhà vui chung...

     

    Tuy số chữ trong các câu thay đổi, nhưng các chữ in đậm trong hai đoạn ca dao nêu trên vẫn theo đúng tinh thần vần và luật của thơ lục bát. Nếu bó buộc phải theo đúng quy luật, các đoạn này có thể được viết lại như sau:

     

    Thương ai ngơ ngẩn bên cầu
    Lược thưa biếng chải, gương tầu biếng soi
    Sập hoa bỏ vắng không ngồi
    Vườn hoa bỏ vắng mặc người quay to

     

      bởi nguyen loan 25/03/2019
    Like (0) Báo cáo sai phạm

Nếu bạn hỏi, bạn chỉ thu về một câu trả lời.
Nhưng khi bạn suy nghĩ trả lời, bạn sẽ thu về gấp bội!

Lưu ý: Các trường hợp cố tình spam câu trả lời hoặc bị báo xấu trên 5 lần sẽ bị khóa tài khoản

Gửi câu trả lời Hủy
 
 

Các câu hỏi mới

  • Mọc giữa đong sông xang Một bông hoa tím biếc Ơi,con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời Từng giọi long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng

    25/11/2022 |   1 Trả lời

  • viết đoạn văn từ 5-7 câu nêu cảm nhận của em về biện pháp tu từ có vị chí nổi bật nhất trong bài thơ "mùa xuân nho nhỏ"

    01/12/2022 |   0 Trả lời

  • Viết đoạn văn BIỂU CẢM về lợi ích của cây CÀ PHÊ.

    04/12/2022 |   0 Trả lời

  • VIDEO
    YOMEDIA
    Trắc nghiệm hay với App HOC247
    YOMEDIA

    Em hãy viết bài văn kể lạu một trận thi đấu bóng rổ mà em ấn tượng nhất khi bắt đầu vào trường thcs(lớp 7)

    07/12/2022 |   0 Trả lời

  • Em sẽ hành động như thế nào để "những tục lệ tốt đẹp ấy" và "những thức quý của đất mình" luôn có một vị trí quan trọng trong tâm hồn của người Việt? (Trả lời từ 3-5 câu)

    Em đang cần gắp ạ!

    11/12/2022 |   0 Trả lời

  • Đọc và trả lời câu hỏi:

    Câu 1: Cảnh vật được miêu tả qua màu sắc nào trong bài thơ "Chiều sông thương".

    18/12/2022 |   0 Trả lời

  • Viết đoạn văn khoảng 150 chữ giải thích câu ca dao :

    "Trà Phú Hội, nước Mạch Bà 

    Sầu riêng An Lợi, chuối già Long Tân 

    Cá bụi sò huyết Pước An 

    Gạo thơm Phước Khánh, tôm càng Tam An"

    19/12/2022 |   0 Trả lời

  • Giải giúp mình bài này nhé! Nêu những điểm cần chú ý về văn bản thông tin. TT

    23/12/2022 |   0 Trả lời

  • sos . mọi người nhanh giúp mình với

    28/12/2022 |   0 Trả lời

  • đề tài của lừa và ngựa

    Giúp Em Vs

    29/12/2022 |   0 Trả lời

  • 'Một ngày nọ, con lừa của một ông chủ trang trại sẩy chân rơi xuống cái giếng. Con vật kêu la hàng giờ liền. Người chủ trang trại cố nghĩ xem nên làm gì. Cuối cùng, ông quyết định: con lừa đã già, dù sao cái giếng cũng cần được lấp lại và không ích lợi gì trong việc cứu con lừa lên cả.

      Ông nhờ vài người hàng xóm sang giúp mình. Họ xúc đất đổ vào giếng.Ngay từ đầu lừa đã hiểu chuyện gì đang xảy ra và nó kêu la thảm thiết.Nhưng sau đó lừa trở nên im lặng.Sau một vài xẻng đất, ông chủ trang trại nhìn xuống và vô cùng sửng sốt.Mỗi khi bị một xẻng đất đổ lên lưng, lừa lắc mình cho đất rơi xuống và bước chân lên trên.Cứ như vậy, đất đổ xuống, lừa lại bước lên cao hơn.Chỉ một lúc sau, mọi người nhìn thấy chú lừa xuất hiện trên miệng giếng và lóc cóc chạy ra ngoài'.

    Từ nội dung của phần đọc hiểu , em hãy viết đoạn văn ngắn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của mình  về thông điệp được rút ra từ câu chuyên trên.

     

    01/02/2023 |   0 Trả lời

  • Giải giúp mình bài này nhé! phần trên thui Câu 1 : Tìm những từ ngữ thể hiện thái độ của con mối và con kiến. Qua những từ ngữ ấy , tác giả muốn thể hiện điều gì? Câu 2 : Chỉ ra sự khác nhau trong hình thức kể chuyện của truyện Con mối và Con kiến với các chuyện Đèo cày giữa đường và Ếch ngồi đáy giếng. Câu 3 : Thủ pháp nào đc sd để lm nổi bật đặc điểm của hai con mối và kiến? Câu 4 : Hình ảnh con mối và con kiến để chỉ kiểu ng nào trong xã hội?

    05/02/2023 |   0 Trả lời

  • bằng một đoạn văn khoảng 10 câu nêu cảm nhận của em về nhân vật ngụ ngôn mà em yêu thích

    08/02/2023 |   0 Trả lời

  • Giải giúp mình bài này nhé! ai giỏi văn thì giúp mình nhé đừng lên gg ạ

    19/02/2023 |   1 Trả lời

  • chỉ ra và nêu cách hiểu của em về các từ ngữ được dùng phép nói quá trong các câu sau :

    1. " Nhớ đêm dài đi đất trời bốc lửa

    Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng "

    2. " Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm,

    Heo hút cồn mây súng gửi trời "

    3. " Gươm mài đá, đá cũng mòn

    Voi uống nước, nước sông phải cạn "

    4. " Các bô lão là những kẻ quê mùa, chất phác, chưa bao giờ được bước chân vào nơi lầu son gác tía, chua bao giờ được bàn việc nước, thế mà nghe quan gia hỏi, họ đều nắm tay, gân mặt, khảng khái tâu lên : Xin đánh, trăm miệng một lời, làm rung chuyển cả một toàn điện Diên Hồng " 

    Liên quan đến biện pháp tu từ nói quá ạ, mong mọi người giúp mk ạ!

    21/02/2023 |   0 Trả lời

  • lập dàn ý ghi lại cảm xúc bài thơ mẹ và quả nguyen khoa diem lớp 7 dàn ý chi tiết nha

    văn học lớp 7

     

    24/02/2023 |   0 Trả lời

  • 22/03/2023 |   2 Trả lời

  • Viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống( trình bày ý kiến phản đối )về các vấn đề của học sinh

    26/03/2023 |   0 Trả lời

  • Tìm hiểu về Vẻ đẹp của cây tre và con người Việt Nam

    30/03/2023 |   0 Trả lời

  • có gì mới ở phương tây

    có ngày có đêm 

    có máu và nước mắt

    có sói lang và những anh hùng

    31/03/2023 |   3 Trả lời

  • Hãy nêu tất cả các văn bản thông tin từ lớp 6 đến lớp 7 sách Ngữ văn Kết nối tri  thức

    09/04/2023 |   0 Trả lời

  • Đọc phần Giới thiệu bài học trong SGK tr76 tập 2 KNTT và trả lời câu hỏi: Phát biểu suy luận của em về mối liên hệ giữa chủ đề bài học và loại văn bản chính cần đọc.

    09/04/2023 |   0 Trả lời

  • Bài học sâu sắc nhất mà em rút ra từ phần văn bản Những câu chuyện của người thầy

    23/04/2023 |   0 Trả lời

  • Những việc nên làm để tự bảo vệ bản thân khi gặp nguy hiểm? Theo em điều nào là quan trọng nhất? Tại sao?

    24/04/2023 |   0 Trả lời

  • I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)

    Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi

    CÔ GIÁO LỚP EM

    Sáng nào em đến lớp

    Cũng thấy cô đến rồi.

    Đáp lời “Chào cô ạ!”

    Cô mỉm cười thật tươi.

     

    Cô dạy em tập viết.

    Gió đưa thoảng hương nhài,

    Nắng ghé vào cửa lớp

    Xem chúng em học bài.

     

    Những lời cô giáo giảng

    Ấm trang vở thơm tho.

    Yêu thương em ngắm mãi

    Những điểm mười cô cho.

    (Nguyễn Xuân Sanh, SGK Tiếng Việt 2, tập 1, NXB Giáo dục, 2002)

    Câu 1. Tác giả đã sử dụng biện pháp tư từ nào qua chi tiết Nắng ghé vào; xem?

    A. So sánh                        B. Nhân hoá         C. Ẩn dụ                  D. Hoán dụ

    Câu 2. Điều gì làm nhân vật em luôn ấn tượng mãi?

    A. hình ảnh cô giáo                  B. hình ảnh lớp học   

    C. hình ảnh trang vở                D. hình ảnh điểm mười               

    Câu 3. Ai là người chăm lo, giúp đỡ em từ những nétchữ đầu đời?

    A. Cô                          B. Thầy                        C. Ba mẹ                        D. Ông bà

    Câu 4. Trong bài thơ, nhân vật em có thái độ, tình cảm như thế nào với cô giáo?

    A. Lo lắng, yêu quý                              B. Lễ phép, trân trọng                          

    C. Lo lắng, trân trọng                           D. Ngạc nhiên, yêu quý

    Câu 5. Em hãy chọn từ, cụm từ phù hợp điền vào phần còn thiếu để hoàn thành thông điệp mà văn bản muốn gửi đến người đọc.

    Hình ảnh ____trong bài thơ gợi đến ký ức về một người hiền từ đã dạy mình những nét chữ, những con số đầu tiên. _______cứ thủ thỉ, ấm áp mà thấm sâu trong tâm hồn, khắc ghi trong trái tim bao thế hệ học trò. 

    A. trang vở; Tình cảm thầy trò                           B. lớphọc; Tình cảm bạn bè 

    C. cô giáo; Tình cảm cô trò                                 D. cô giáo; Tình cảm thầy trò                           

    Câu 6. Ý nào đúng khi nói về tác dụng của các vần nhài-bài, tho-cho?

    A. Vần được gieo vào cuối dòng, có tác dụng đánh dấu sự kết thúc dòng thơ và tạo nên mối liên kết giữa các dòng thơ.

    B. Vần được gieo vào cuối dòng, có tác dụng đánh dấu sự chuyển tiếp dòng thơ và tạo nên sự tách biệt giữa các dòng thơ.

    C. Vần được gieo vào cuối dòng, có tác dụng đánh dấu sự chuyển tiếp dòng thơ và tạo nên tiết tấu của các dòng thơ.     

    D. Vần được gieo vào cuối dòng, có tác dụng đánh dấu sự thay đổi dòng thơ và tạo nên nhạc điệu của các bàithơ.     

    Câu 7. Từ đưa trong câu Gió đưa thoảng hương nhài có nghĩa là

    A. trao, giao trực tiếp cho người khác về một sự vật, sự việc, đối tượng.

    B. dẫn dắt, điều khiển, làm cho đi tới một nơi, đạt tới một đích nhất định.

    C. chuyển động hoặc làm cho chuyển động qua lại một cách nhẹ nhàng.

    Dcùng đi với ai một đoạn đường trước lúc chia tay hoặc xa cách.

    Câu 8. Từ câu thơ Cô dạy em tập viết có thể mở rộng chủ ngữ bằng cụm từ. Cách nào sau đây thực hiện đúng?

    A. Mỗi ngày, cô dạy em tập viết.           B. Cô thường dạy em tập viết.

    C. Cô thì dạy em tập viết.                       D. Những người cô dạy em tập viết.

    Câu 9. Qua bài thơ trên, em rút ra được bài học gì về cách ứng xử với thầy cô?

    Câu 10. Khi đánh giá về văn bản Cô giáo lớp em, có bạn cho rằng: Bài thơ nhỏ nhắn, xinh xắn rất đẹp từ ngôn từ đến cảm xúc, tình cảm ẩn chứa trong đó. Vậy ý kiến của em như thế nào?

    10/05/2023 |   0 Trả lời

NONE
OFF