OPTADS360
ATNETWORK
ADS_ZUNIA
YOMEDIA
Banner-Video
IN_IMAGE

Bình luận chân lí trong bài ca dao Bầu ơi thương lấy bí cùng...

Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

Hãy làm sáng tỏ chân lí trong câu nói trên

  bởi hi hi 29/01/2019
ADMICRO/lession_isads=0

Câu trả lời (2)

  • Ca dao Việt Nam là kho tàng kinh nghiệm sống cũng là kho lưu trữ truyền thống đạo lí, tình cảm của nhân dân ta từ xa xưa. Trong cuộc sống không ngừng đấu tranh với thiên nhiên và chiến đấu chông kẻ thù chung, tổ tiên ta đã từng khuyên dặn nhau:

    “Bầu ơi thương thấy bí cùng,

    Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.

    Câu ca dao có ý nghĩa gì?

    Đó là một lời căn dặn về tình yêu thương đùm bọc.

    Bầu và bí tuy là hai giống khác nhau nhưng lại được trồng chung một mảnh đất, leo chung một giàn, tức là cùng chung cảnh ngộ, có chung một điều kiện sống, chớ có ghét bỏ nhau, mà phải thương lấy nhau. Bầu chớ chê bí nhám hơn bầu. Bí cũng chớ đừng vì hoa bí vàng, hoa bầu thì trắng, quả bí thì dài, quả bầu thì tròn mà xa rời nhau.

    Vì sao vậy? Vì đã chung một giàn tức là cùng chung phận. Mưa thuận gió hòa ư? Bầu, bí rồi cùng khô héo với nhau. Một ngày kia nếu chẳng may giàn đổ, bí mà thân gãy lá rụng, chẳng lẽ bầu lại một mình giữ được tươi xanh?

    Nghĩa đen của câu ca dao là thế. Nhưng tất nhiên câu ca không phải được tạo nên để kêu gọi cây bầu cây bí là những giống vô tri. Bằng cách diễn đạt kín đáo thường gặp của ca dao, tục ngữ, đằng sau biện pháp nhân hóa, câu ca dao này ngụ một ẩn ý sâu xa, một lời khuyên vừa kín đáo vừa chân thành, một lời kêu gọi thiết tha cho con người.

    Người ta ở đời, không phải ai cũng như ai, người ta có thể “khác giống”, khác nhau về nguồn gốc, về hoàn cảnh, điều kiện sống riêng, có người là “giống bầu”, có người là “giống bí”. Nhưng bên trên những cái khác nhau đó, nhiều người, nhiều lúc, lại có chỗ giống nhau, cùng sống chung trong những điều kiện, những cảnh ngộ như nhau, cùng “chung một giàn” với nhau. Trong một xã hội, ta có biết bao cái chung như vậy. Chung Tổ quốc, ấy là tình đồng bào. Chung làng xóm, ấy làtình đồng hương. Chung trường học, ấy là tình đồng môn. Chung cảnh ngộ, ấy là bạn đồng cảnh. Chung một nghề, ấy là bạn đồng nghiệp. Chung họ hàng, ấy là tình đồng tông...

    Vượt lên trên những khác biệt nhỏ, vì sự giống nhau của một điều chung lớn, con người phải biết thương yêu nhau, giúp đỡ đùm bọc lẫn nhau, đoàn kết với nhau.

    Vì sao vậy? Bởi vì chính tình cảnh “chung một giàn” giữa người này vởi người khác tạo nên cho con người mối quan hệ ràng buộc, những đau khổ và hạnh phúc chung, những niềm vui nỗi buồn chung, những lo liệu và khát khao chung, những thương yêu và hận thù chung. Chẳng hạn, trong những thời kì đất nước bị ngoại bang thống trị, như thời ngàn năm Bắc thuộc hoặc gần một trăm năm Pháp thuộc, người Việt Nam, có người sang, kẻ hèn, người làm thầy, kẻ làm thợ, “khác giông” với nhau vì nhiều thứ nhưng tất cả đều chịu cái khổ của người dân mất nước, cái nhục chung của người dân nô lệ và có chung niềm mong muôn nước nhà được giải phóng, dân tộc được tự do. Vì những điều chung ấy, mọi người Việt Nam phải thương lấy nhau, bảo vệ nhau, đoàn kết gắn bó với nhau. Đó không chỉ là đòi hỏi của tình cảm mà còn là yêu cầu sống còn trước sự ức hiếp, đe dọa của kẻ thù chung.

    Dưới ách thống trị của giai cấp phong kiến, những người nông dân, dẫu khác nhau vì nhiều thứ, vẫn cùng chung nhau những tai họa và đau khổ: mưa nắng bão lụt của trời đất, sưu thuế, phu phen của vua quan, tô tức của địa chủ, đè nén ức hiếp của cường hào. Nếu không nương tựa vào nhau khi khốn khó, giúp đỡ nhau khi tắt lửa tối đèn, làm sao họ có thể tồn tại được qua hàng ngàn năm?

    Theo em, câu ca dao trên hẳn đã ra đời từ mấy ngàn năm qua, khi nhân dân Việt Nam phải đương đầu với nhiều kẻ thù, đối phó với nhiều tai họa. Đã có những lời kêu gọi như thế:

    “Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

    Người trong một nước phải thương nhau cùng”.

    Hoặc: “Khôn ngoan đá đáp người ngoài,

    Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”.

    Câu ca dao trên là sự tổng hợp những kinh nghiệm sống rất phong phú, là bài học lớn mà nhân dân ta đã thu hoạch được qua hàng trăm, hàng ngàn năm lao động và đấu tranh. Đó là một lời nhắn nhủ thiếttha của cha ông truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, là lời kêu gọi tình tương ái tương thân, yêu thương đoàn kết.

    Hơn lúc nào hết, trong những khó khăn gian khổ, mỗi người dân Việt Nam phải suy nghĩ và hành động theo lời nhắn nhủ của câu ca dao:

    “Bầu ơi thương lấy hí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.

    Câu ca dao làm cho em hiểu vì sao nhân dân ta chiến thắng bao kẻ xâm lăng tàn bạo để bảo vệ Tổ quốc, nòi giống.

    Ngày nay, câu ca dao ấy vẫn là lời kêu gọi đoàn kêt thương yêu đối với người dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

      bởi Nguyễn Hằng 29/01/2019
    Like (0) Báo cáo sai phạm
  • Các nhà nghiên cứu văn chương truyền khẩu đều cho rằng tục ngữ là kho tàng trí tuệ, đúc kết kinh nghiệm sống của tổ tiên bao đời, còn ca dao chính là những khúc ca, câu hát trữ tình phong phú nhất của dân tộc. Có bao nhiêu hoàn cảnh sống là có bấy nhiêu câu hát. Lao động mệt nhọc ư? Đã có khủc hát hò dô, hát ví, hát đối… Công cha nghĩa mẹ, tình cảm riêng tư, tình thương của cộng đồng người khác màu da, chủng tộc trên cùng một vùng đất,… là những đề tài thường thấy trong ca dao. Chúng ta thường nhắc nhở nhau:

    “Bầu ơi thương lấy bí cùng

    Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.

    Về nghĩa đen thì câu ca dao không có lấy một từ Hán – Việt. “Bầu – bí – giống – giàn” là những từ gợi hình giữ nhiệm vụ chính cũng không xa lạ gì với người đọc. Bầu, bí là hai loài thực vật, khác nhau về cây, lá, trái nhưng cùng họ dây leo nên người miền quê thường gọi là dây bầu, dây bí. Khác với dưa hấu, bí ngô bò sát đất, bầu và bí cùng phát triển trên một cái giàn làm bằng thân, cành gỗ, tre… gồm những chiếc cột và những thân cây gác ngang tạo thành những ô vuông nhỏ. Dù đơn sơ hay vững chắc, thấp hay cao thì mặt giàn cũng phải cách mặt đất khoảng trống đủ cho trái bầu, trái bí treo lủng lẳng, đong đưa,… Như vậy, dù gốc – giống có khác nhau nhưng xét cho cùng cả bầu lẫn bí đều có những điểm chung. Nếu có cảm xúc, có tri giác thì bầu – bí kêu gọi thương yêu nhau cũng là lẽ thường tình.

    Đứng lẻ loi một mình thì “bầu, bí” là những từ mang tính hiển ngôn. Nhưng có động từ “thương” tham dự vào thì chúng còn mang những đặc tính hàm ngôn. “Bầu – bí” trong câu ca dao tượng trưng cho những sắc dân nào đó cùng sống “chung một giàn”, một quê hương – Tổ quốc.

    Tìm về cội nguồn dân tộc trong kho tàng truyện thần thoại, truyện cổ,… chúng ta càng hiểu rõ hơn ý nghĩa của hai câu ca dao trên. Cuộctình của Cha – Mẹ thuở xưa đúng là khác giống đã nảy sinh trên vùng đất Lạc Việt. Lạc Long Quân nòi rồng, sống ở vùng biển, Âu Cơ thuộc dòng dõi Thần Nông ở miền núi, vì yêu thương nên cùng nhau chung sống, hai người sinh được trăm con, sau này năm mươi con theo cha về biển, năm mươi con theo mẹ lên ngàn chia nhau cai quản mỗi người một phương, cùng hứa hẹn lúc cần thiết thì kêu gọi để giúp đỡ lẫn nhau.

    Truyện cổ của người Ba-na cũng mang ý nghĩa tương tự. Người ch- giận đứa con út vô tình nên đã đuổi anh ra khỏi nhà. Người anh vàng vào rừng, báo cho vợ của người em biết. Nàng vào rừng sâu, núi cao tìm gặp chồng. Họ cùng phá nương làm rẫy, xây dựng buôn làng để thành người Ba-na. Còn người anh vẫn sống cùng cha ở đồng bằng đề trở thành người Kinh.

    Qua hai truyện cổ trên, xem ra các dân tộc trên dải đất hình chữ s này không chỉ cùng “giàn” mà còn cùng gốc, nhưng vì hoàn cảnh nên phải sống xa nhau, và phong cách sống cũng biến đổi dần theo công việc, theo phong thổ.

    Giờ đây, trên vùng đất được xem như cái bao lơn trông ra Thái Bình Dương này tập hợp trên năm mươi sắc dân: Tày, Dao, Nùng, Mường, Thái, Ê-đê… làm phong phú thêm sắc thái của người dân Việt.

     

    Phải công nhận rằng tổ tiên đã sớm nhận ra tâm lí thường ngày của con người trong cuộc sống. Đời sống riêng tư của một người, của gia đình, dòng họ nhiều lúc làm con người quên mất đời sống của người khác. Con người chỉ biết vun vén, xây dựng hạnh phúc riêng nên quên mất hạnh phúc chung, quên mất tình thương đối với những người cùng chung đất nước đang lâm vào hoàn cảnh ngặt nghèo đói cơm thiếu áo bởi nạn binh đao, bởi thiên nhiên khắc nghiệt.

    Quá khứ giúp chúng ta nhận ra rằng dân tộc chúng ta luôn bị nạn ngoại xâm đe dọa. Mỗi lần quân giặc tràn qua, người dân vùng biên giới lại phải hứng chịu cảnh tan cửa nát nhà. Họ đang ở tuyến đầu nên phải cầm gươm, súng chống giặc, chẳng có thì giờ để cầm cuốc, cầm cày, chẳng có thì giờ để vào xí nghiệp… Nơi nào có bóng dáng của chiến tranh thì nơi ấy chịu cảnh tiêu điều, tang thương. Từ thuở Hùng Vương dựng nước đến nay đã bao lần người dân ở vùng biên giới phương Bắc lâm nào cảnh đói cơm, thiếu áo…?.! Từ cậu bé làng Gióng cưỡi ngựa sắt xông ra mặt trận chống lại giặc Ân, Hai Bà Trưng cất binh chống lại nhà Đông Hán, rồi Lê Hoàn, Ngô Quyền, Lí Thường Kiệt, Trần HưngĐạo, Lê Lợi, Quang Trung… và ngay cả vào năm 1979 khi súng vừa im ỏ' biên giới Tây Nam thì đạn nổ ở chân trời phía Bắc. Những làng mạc sát gần biên giới Campuchia từ Quảng Tín đến Hà Tiên đã làm mồi cho ngọn lửa bạo tàn của bè lũ Pôn Pốt. Thành phố, làng mạc chạy dọc theo biên giới sáu tỉnh miền Bắc bị đốt cháy, nghiền nát bởi đại bác và xe tăng chẳng khác gì cảnh đổ nát, tang thương của những tháng năm giặc Nguyên, giặc Minh, Thanh sang xâm lược.

    Những lúc vận mệnh đất nước lâm vào nguy khốn ấy thì lại xuất hiện “bọn gian tà bán nước cầu vinh” được Nguyễn Trãi tường trình trong Bình Ngô đại cáo, hay như cụ Phan Bội Châu đã nhận định: “Sống trong nước mỗi người một khác Vốn cùng nhau xung khắc bất hòa Những là ta lại hại ta Cầu thân dị chủng mà xa đồng bào”.

    Nhưng nếu có số ít người phản bội ấy thì cũng không thiếu triệu triệu tấm lòng đồng thanh kêu gọi:

    “Bầu ơi thương lấy bí cùng

    Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.

    Tình thương đã tỏ ra thì mọi người đoàn kết lại, lửa căm hờn sôi sục tạo nên sức mạnh thiêu sạch quân thù!

    Chúng ta cũng cần nhớ đất nước thân yêu nằm trong vùng nhiệt đới, kéo dài gần 2000 cây số theo đường chim bay, là cái bao lơn trông ra Thái Bình Dương, địa thế thuận lợi giao thương nhưng luôn luôn bị đe dọa bởi thiên tai. Truyện cổ Sơn Tinh – Thủy Tinh luôn là bài học cảnh giác. Cả ba miền Bắc – Trung – Nam đều chịu bão lụt, nhất là miền Bắc và miền Trung. Nếu miền Bắc có lưu vực sông Hồng đất đai màu mỡ, miền Nam với vùng châu thổ sông Cửu Long, đồng ruộng thẳng cánh cò bay, cá tôm phong phú, vùng duyên hải vừa có đồng ruộng vừa đa dạng hải sản hải sản thì cũng có lắm vùng như lời thơ Chính Hữu: “Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”.

    Đất nghèo chất dinh dưỡng, bão lụt hạn hán thường xuyên ập đến khiến những người dân ở vùng ngập mặn nhiều phen phải sống trong cảnh khốn khổ, người dân ở vùng đất cày lên sỏi đá phải dốc hết sức lực nhưng cái đói vẫn không buông tha. Tổ tiên của chúng ta khôngquên đồng bào ở những vùng đất ấy. Mỗi lần thiên tai ập đên là mỗi lần có lời kêu gọi thiết tha cất lên:

    Nhiễu điều phủ lấy giá gươn, “Người trong một nước thì thương nhau cùng”.

    Bất cứ thời đại nào, dù sống ở đâu, mỗi khi biết đồng bào gặp hoàn cảnh khó khăn thì họ lại nhắc câu hát “Bầu ơi…” đã có tự bao giờ.

    Like (0) Báo cáo sai phạm

Nếu bạn hỏi, bạn chỉ thu về một câu trả lời.
Nhưng khi bạn suy nghĩ trả lời, bạn sẽ thu về gấp bội!

Lưu ý: Các trường hợp cố tình spam câu trả lời hoặc bị báo xấu trên 5 lần sẽ bị khóa tài khoản

Gửi câu trả lời Hủy
 
 

Các câu hỏi mới

NONE
OFF