OPTADS360
ATNETWORK
ADS_ZUNIA
YOMEDIA

Bộ 3 đề thi thử THPT QG môn Ngữ văn năm 2021 trường THPT Phan Đình Phùng

22/06/2021 1.13 MB 283 lượt xem 1 tải về
Banner-Video
https://m.hoc247.net/docview/viewfile/1.1.114/web/?f=https://m.hoc247.net/tulieu/2021/20210622/673137721027_20210622_135952.pdf?r=537
ADMICRO/
Banner-Video

Nhằm giúp các em học sinh lớp 12 nắm được cấu trúc đề thi THPT QG môn Ngữ văn một cách chính xác và đầy đủ nhất HOC247 xin gửi đến Bộ 3 đề thi thử THPT QG môn Ngữ văn năm 2021 trường THPT Phan Đình Phùng. Hi vọng tài liệu sẽ giúp các em học tập thật tốt.

 

 
 

TRƯỜNG THPT PHAN ĐÌNH PHÙNG

ĐỀ THI THỬ THPT QG

MÔN: NGỮ VĂN

NĂM HỌC: 2021

(Thời gian làm bài: 120 phút)

 

ĐỀ SỐ 1

I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích:

Trời ơi nếu kẻ thù chiếm được

Chỉ một gốc sim thôi dù chỉ gốc sim cằn

Tổ quốc sẽ ra sao? Tổ quốc?

Thơ ơi thơ hãy ghì lấy gốc sim

Anh đang bò về phía gốc sim

Ngực đập dội chuyền sang đất đá

Quần áo tướp ra

Một nửa người anh dâm dấp máu

Anh đang đau cho đất đá anh yêu

Gốc sim cằn và xơ xác làm sao

Không che nổi anh đâu, bò cách chi cũng lộ

Em có thể mất anh bất cứ lúc nào

Em có thể bơ vơ khi em còn rất trẻ

Anh có thể chẳng bao giờ còn đánh được gốc tre

Phơi nỏ sẵn dành sưởi đêm cho mẹ

Sông ơi sông nếu ta phải ra đi

Bậc thấp xuống cho em ra gánh nước

Xin bát canh đến tay mẹ lúc còn nóng

Xin mùa đông đừng dài

Và cột nhà hãy đỡ mẹ thật êm

Trời bao nhiêu thu ta mới hát một lần

Nhưng trước mặt là Tổ quốc

Dù chỉ gốc sim thôi dù chỉ gốc sim cằn

Anh ôm súng bò lên với trái tim tình nguyện.

(Hữu Thỉnh - Thơ Từ chiến hào tới thành phố - NXB Văn học - 1985, tr14,15)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 2. Nhân vật anh trong đoạn trích được hiện lên qua những từ ngữ, hình ảnh nào?

Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa trong những câu thơ sau:

sông ơi sông nếu ta phải ra đi

bậc thấp xuống cho em ra gánh nước

xin bát canh đến tay mẹ lúc còn nóng

xin mùa đông đừng dài

và cột nhà hãy đỡ mẹ thật êm

Câu 4. Điều gì trong đoạn trích khiến anh/chị xúc động nhất? Vì sao?

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về giá trị của cuộc sống hòa bình.

Câu 2 (5,0 điểm)

Cảm nhận diễn biến tâm trạng của Tràng trong buổi sáng đầu tiên Tràng có vợ, từ đó nhận xét về sự thay đổi của nhân vật (Vợ nhặt – Kim Lân, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019).

---- HẾT ----

ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 1

I. ĐỌC HIỂU

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm.

Câu 2. Nhân vật anh trong đoạn trích được hiện lên qua những từ ngữ, hình ảnh: bò về phía gốc sim, ngực đập dội, quần áo tướp ra, một nửa người dâm dấp máu…

Câu 3.

- Biện pháp tu từ nhân hóa: sông ơi… bậc thấp xuống, cột nhà đỡ mẹ thật êm.

- Tác dụng: Khiến cho sự vật trở nên thân thương, gần gũi, biết chia sẻ nỗi đau như con người; thể hiện một cách sâu sắc, cảm động tình yêu thương của người lính dành cho người vợ trẻ, người mẹ già; góp phần làm câu thơ giàu hình ảnh, biểu cảm, sống động, có hồn…

Câu 4.

- Thí sinh trình bày điều khiến mình xúc động nhất.

- Lí giải một cách thuyết phục, hợp lí.

II. LÀM VĂN

Câu 1

1. Mở bài

- Đặt vấn đề: Hòa bình - sợi dây kết nối toàn cầu.

2. Thân bài

a) Giải thích:

- Hòa bình là gì?

+ Hòa bình không đơn giản chỉ là không có chiến tranh. Hòa bình là khi chúng ta đang sống hòa thuận và không có sự đấu đá lẫn nhau. Nếu mỗi người trong thế giới được yên ổn, đó sẽ là một thế giới hòa bình.

+ Hòa bình còn có nghĩa là đang sống sự thinh lặng nội tâm. Hòa bình là tình trạng bình tĩnh và thư thái của trí óc.

+ Hòa bình bắt đầu nơi mỗi người chúng ta. Xuyên qua thinh lặng và sự suy nghĩ đúng đắn về ý nghĩa của nó, chúng ta có thể tìm được nhiều cách mới mẻ và sáng tạo để tạo thuận lợi cho sự hiểu biết về các mối quan hệ và sự hợp tác với tất cả mọi người.

- Vì sao hòa bình lại là sợi dây kết nối toàn cầu ?

+ Về thế giới:

Thế giới sống trong hòa bình sẽ thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội và nhân văn.

Khi mà mỗi đất nước đều yên ổn để có thể phát triển mọi mặt thì đất nước ấy sẽ không gây hại, xâm lấn gì đến những đất nước khác, từ đó tạo nên nền hòa bình trên thế giới, các quốc gia đều hợp tác với nhau.

+ Về cá nhân:

Sống trong hòa bình,con người sẽ có cuộc sống hạnh phúc yên ổn...

Khi mọi người cảm thấy thoải mái về đời sống vật chất và tinh thần thì sẽ nhìn lại mọi người xung quanh nhiều hơn, quan tâm chăm sóc họ nhiều hơn. Từ đó họ sẽ có mối quan hệ tốt đẹp với mọi người xung quanh.

b) Phân tích:

- Khi thế giới sống trong hòa bình thì sẽ ra sao?

+ Tinh thần yên ổn, sống thoải mái…

+ Mọi người đều an cư lạc nghiệp, đất nước ngày càng phát triển về mọi mặt.

- Khi thế giới không có hòa bình thì sẽ như thế nào?

+ Tiếng bom đạn sẽ vang lên khắp mọi nơi khiến cho loài người bước đến bên bờ vực của sự chết chóc.

+ Con người sẽ không thể an cư lạc nghiệp, phát triển kinh tế - xã hội. Từ đó dẫn đến đất nước sẽ không thể phát triển.

+ Những tệ nạn xã hội sẽ diễn ra khắp mọi nơi mà không có ai kiểm soát, cướp bóc hoành hành, một xã hội không có đạo đức và pháp luật sẽ diễn ra.

+ Con người sẽ dần bị tha hóa vì tìm kiếm miếng ăn để nuôi cho cái thân này tồn tại, tha hóa vì tranh chấp quyền lực, sự hơn thua, giết hại chính đồng loại của mình,… -> không có sự bình yên trong tâm hồn.

+ Môi trường bị xuống cấp nghiêm trọng -> con người không có nơi để sinh sống, để tìm ra nguồn thức ăn,…

- Dẫn chứng những người đã tham gia tích cực việc bảo vệ nền hòa bình trên thế giới:

+ Đại tướng Võ Nguyên Giáp chính là một minh chứng điển hình cho những người suốt đời bảo vệ hòa bình.

+ Chủ tich Hồ Chí Minh - người đã hết lòng vì sự hòa bình của nước nhà mà bôn ba khắp mọi miền đất để tìm ra chân lý dìu dắt nhân dân ta đứng lên chiến đấu dành lại nền hòa bình của đất nước.

c) Thái độ:

- Lên án những hành vi làm tổn hại đến sự hòa bình của thế giới và sự bình yên trong tâm hồn mỗi cá nhân.

- Bài học nhận thức và hành động:

+ Bản thân không làm những việc gây tổn hại đến người khác, bên cạnh đó cần quan tâm nhiều hơn đến mọi người xung quanh.

+ Tích cực ủng hộ những hành động bảo vệ cho nền hòa bình trên thế giới.

+ Tham gia các hoạt đông tập thể, giao lưu với các bạn ngoại quốc để tạo nên mối quan hệ tốt đẹp.

3. Kết bài

- Khẳng định lại hòa bình chính là sợi dây kết nối thế giới, đồng thời khuyến khích mọi người bảo vệ nền hòa bình trên thế giới.

---(Để xem tiếp đáp án những câu còn lại vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy)---

 

ĐỀ SỐ 2

I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích:

“Giấc mơ của anh hề

Thấy mình thành triệu phú (…)

Giấc mơ người hát xẩm nhục nhằn

Thức dậy giữa lâu đài rực rỡ

Thằng bé mồ côi lạnh giá

Thấy trong tay chiếc bánh khổng lồ

Trên đá lạnh, người tù

Gặp bầy chim cánh trắng

Kẻ u tối suốt đời cúi mặt

Bỗng thảnh thơi đứng dưới mặt trời.

Giấc mơ đêm cứu vớt cho ngày

Trong hư ảo người sống phần thực nhất

Cái không thể nào tới được

Đã giục con người

Vươn đến những điều đạt tới

Những giấc mơ êm đềm

Những giấc mơ nổi loạn

Như cánh chim vẫy gọi những bàn tay.

Đời sống là bờ

Những giấc mơ là biển

Bờ không còn nếu chẳng có khơi xa…”

 (Trích Giấc mơ của anh hề - Lưu Quang Vũ, Lưu Quang Vũ – Thơ tình,  NXB văn học, năm 2002)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Chỉ ra một biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 3. Anh/Chị hiểu như thế nào về nội dung của các câu thơ:

Cái không thể nào tới được

Đã giục con người

Vươn đến những điều đạt tới

Câu 4. Anh/Chị có đồng tình với ý thơ sau của tác giả không? Lý giải vì sao?

Đời sống là bờ

Những giấc mơ là biển

Bờ không còn nếu chẳng có khơi xa…

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm)

Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) chia sẻ cách anh/chị thực hiện ước mơ của mình.

Câu 2. (5,0 điểm)

Không những trong bộ lịch năm ấy mà mãi mãi về sau, tấm ảnh chụp của tôi vẫn còn được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật. Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân giậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông…

 (Trích Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu, Ngữ văn 12, tập II, NXB Giáo dục Việt Nam, năm 2007, trang 77-78)

Phân tích cảm nhận của nghệ sĩ Phùng trong đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét quan niệm nghệ thuật của nhà văn được thể hiện qua tác phẩm.

---- HẾT ----

ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 2

I. ĐỌC HIỂU

Câu 1. Thể thơ: Tự do (0,5 điểm)

Câu 2. Chỉ ra một biện pháp tu từ trong đoạn thơ: (Học sinh chỉ cần gọi đúng tên một biện pháp tu từ (0,25 điểm), chỉ ra đúng biện pháp đó (0,25 điểm)

+ Liệt kê: những giấc mơ của anh hề, người hát xẩm, cậu bé mồ côi nghèo khổ, người tù…

+ Đối lập (tương phản): anh hề/ trở thành triệu phú; người hát xẩm/ lâu đài rực rỡ; thằng bé mồ côi/ trong tay chiếc bánh khổng lồ; kẻ u tối/ thảnh thơi dưới mặt trời...

+ Phép điệp ngữ: những giấc mơ

  • Những giấc mơ êm đềm
  • Những giấc mơ nổi loạn

+ Phép so sánh:

  • Những giấc mơ… như cánh chim vẫy gọi những bàn tay
  • Đời sống là bờ
  • Những giấc mơ là biển

* Học sinh có thể có phát hiện riêng, nếu chỉ đúng, giáo viên vẫn cho điểm.

Câu 3. Anh/Chị hiểu như thế nào về nội dung của các câu thơ: (1,0 điểm)

Cái không thể nào tới được

Đã giục con người

Vươn đến những điều đạt tới

Học sinh có thể diễn đạt theo cách riêng, nhưng cơ bản hiểu được:

- Ước mơ vẫy gọi, thúc giục con người phấn đấu đạt được điều mình mong mỏi; (0,5 điểm)

- Ước mơ thôi thúc con người nỗ lực hành động để biến điều không thể thành  điều có thể.( 0,5 điểm)

Câu 4. HS có thể bày tỏ sự đồng tình/ không đồng tình với ý thơ (0,25 điểm), nhưng lý giải phải thuyết phục (0,75 điểm).

II. LÀM VĂN

Câu 1.

Đảm bảo cấu trúc và dung lượng đoạn nghị luận (khoảng 200 chữ). Có mở đoạn, thân đoạn và kết đoạn, vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. (0,25 điểm)

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: chia sẻ cách anh/chị thực hiện ước mơ của mình. (0,25 điểm)

Nội dung: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, có những ý kiến chia sẻ riêng, nhưng cơ bản đảm bảo một số ý sau: (1,5 điểm)

- Ước mơ: điều tốt đẹp mà con người mong mỏi đạt được, là cái mục tiêu/ mục đích để cho ta phấn đấu, nỗ lực vươn tới.

- Cách để thực hiện ước mơ:

+ Trước hết phải lắng nghe chính mình, xác định được ước mơ của bản thân là gì.

+ Nuôi dưỡng ước mơ.

+ Nỗ lực hành động bằng cách tu dưỡng, học tập, rèn luyện…

+ Quyết tâm theo đuổi mục tiêu.

* Hoc sinh có thể chia sẻ về ước mơ cụ thể, và những cảm nhận từ việc theo đuổi và thực hiện ước mơ đem lại (khuyến khích cho điểm)

Câu 2.

2.1. Kĩ năng

- Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận; mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.( 0,5 điểm)

- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận. (0,5 điểm)

2.2. Nội dung

Giới thiệu (0,5 điểm)

- Những nét khái quát về tác giả Nguyễn Minh Châu và truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa.

- Nêu được vấn đề: cảm nhận của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng về bức ảnh chụp và nhận xét quan niệm nghệ thuật của nhà văn qua tác phẩm.

Học sinh có thể phân tích, trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng cơ bản đảm bảo được các ý sau:

Phân tích cảm nhận của nghệ sĩ Phùng : (1,5 điểm)

+ Tấm ảnh là hiện thân của nghệ thuật, cái đẹp, và là kết quả của lao động sáng tạo của nghệ sĩ. Cái đẹp được tôn vinh, và có giá trị lâu dài (mãi mãi về sau, tấm ảnh chụp của tôi vẫn còn được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật).

+ Màu hồng của ánh sương mai biểu hiện cho cái đẹp thi vị, lãng mạn, dễ thấy nên thấy trước, còn hình ảnh người đàn bà hàng chài với đời sống vất vả lam lũ thì khó thấy nên thấy sau, nhưng khi đã phát hiện ra thì không thể quên và không được phép quên.

+ Bức ảnh thể hiện sự ám ảnh của người nghệ sĩ về hiện thực cuộc đời qua hình ảnh và số phận người đàn bà hàng chài. Đó không phải là hiện tượng cá biệt, mà nó đã trở thành biểu tượng cho số phận chung của người lao động nghèo khổ.

Nhận xét quan niệm nghệ thuật của nhà văn qua tác phẩm: (1,0 điểm)

+ Quan niệm về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống: nghệ thuật phải gắn liền với cuộc đời.

+ Nhà văn phải có cái nhìn toàn diện, sâu sắc về cuộc đời và con người, phải quan tâm đến số phận con người.

---(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 2 vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy)---

 

ĐỀ SỐ 3

Phần đọc hiểu (3.0 điểm)

Đọc đoạn trích:

đất nước ngàn năm không mỏi cánh tay cung

giáo mác Trường Sơn

cọc nhọn Bạch Đằng

đến trẻ chăn trâu cũng cờ lau tập trận

chiếc roi cày rần rật máu cha ông

đất nước sinh ra huyền thoại tiên rồng

bọc trứng trăm con lên rừng xuống biển

mẹ lội suối trèo non

cha bạt ghềnh chắn sóng

mong mai sau nên vóc nên hình

đất nước mỗi ngày lên đón ánh mặt trời

thấy dung mạo tiền nhân nhắc lời di huấn

nghe vị mặn mồ hôi thấm đầu sông cuối bãi

vạt cỏ bên đường cũng học để mà xanh

(Cương thổ, Nguyễn Đức Dũng) 

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Đoạn thơ trên được viết bằng thể thơ gì?

Câu 2. Chọn những hình ảnh, từ ngữ nói lên tinh thần yêu nước, bất khuất chống giặc ngoại xâm của con người Việt Nam.

Câu 3. Xác định biện pháp tu từ và hiệu quả nghệ thuật trong câu thơ “đất nước ngàn năm không mỏi cánh tay cung”.

Câu 4. Trình bày cách hiểu của anh/chị về khát vọng được thể hiện trong câu thơ: “mong mai sau nên vóc nên hình”.

Phần làm văn (7.0 điểm)

Câu 1 (2.0 điểm)

Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc - hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về lời di huấn của tiền nhân trong câu thơ “vạt cỏ bên đường cũng học để mà xanh”.

Câu 2 (5.0 điểm)

Cảm nhận của anh/chị về sức sống tiềm tàng mãnh liệt của nhân vật Mị trong đoạn trích sau:

Ngày Tết, Mị cũng uống rượu. Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mị đang sống về ngày trước. Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, cứ ngày đêm thổi sáo đi theo Mị.

Rượu đã tan lúc nào. Người về, người đi chơi đã vãn cả. Mị không biết. Mị vẫn ngồi trơ một mình giữa nhà. Mãi sau Mị mới đứng dậy, nhưng Mị không bước ra đường. Mị từ từ bước vào buồng. Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết. Bấy giờ Mị ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng. Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm, Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết. Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau! Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra. Mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường.

Anh ném pao, em không bắt

Em không yêu, quả pao rơi rồi…

(Trích Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục)

---- HẾT ----

ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 3

Phần đọc hiểu

Câu 1. Thể thơ: Tự do

Câu 2. Hình ảnh thể hiện tinh thần yêu nước, bất khuất chống giặc ngoại xâm của con người Việt Nam: không mỏi cánh tay cung, giáo mác Trường Sơn, cọc nhọn Bạch Đằng, trẻ chăn trâu cũng cờ lau tập trận, chiếc roi cày.

Câu 3.

- Biện pháp tu từ: nhân hóa.

- Tác dụng:

+ Giúp cho câu thơ thêm phần sinh động, người đọc dễ hình dung.

+ Nhấn mạnh đến lịch sử chiến đấu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước vô cùng hào hùng của dân tộc ta.

Câu 4. Học sinh có thể trình bày theo quan điểm của mình, cần giải thích lý do hợp lý.

Gợi ý:

Có thể hiểu câu “mong mai sau nên vóc nên hình” thể hiện khát vọng: đất nước sẽ ngày càng vững mạnh, vươn tầm ra thế giới để xứng đáng với nguồn gốc con Rồng cháu Tiên, để xứng đáng với sự hi sinh lớn lao của tiên tổ.

Phần làm văn

Câu 1:  Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ về lời di huấn của tiền nhân trong câu thơ “vạt cỏ bên đường cũng học để mà xanh”.

a. Đảm bảo dung lượng (khoảng 200 chữ), lập luận, diễn đạt rõ ràng.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: lời di huấn của tiền nhân trong câu thơ “vạt cỏ bên đường cũng học để mà xanh”.

c. Triển khai vấn đề cần nghị luận: Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề cần nghị luận nhưng cần làm rõ được các nội dung:

+ Giới thiệu vấn đề

+ Giải thích: Vạt cỏ bên đường cũng học để mà xanh:

Vạt cỏ bên đường có thể hiểu là sự vật bình dị, nhỏ bé trong cuộc sống.

Xanh thể hiện một sức sống mạnh mẽ, vươn lên mọi khó khăn, thử thách.

=> Câu thơ trên đã nhắc nhở chúng ta: bất cứ ai, dù nhỏ bé hay vĩ đại cũng cần có ý chí, nghị lực, sự nỗ lực, cố gắng để không ngừng vươn lên, bước về phía trước để đạt được thành công.

+ Bàn luận

- Trong hành trình cuộc đời chắc chắn mỗi chúng ta sẽ phải đối mặt với vô vàn khó khăn, thử thách. Những thách thức đó chính là một loại thuốc thử để đo sức sống tiềm tàng bên trong mỗi cá nhân.

- Đứng trước khó khăn, bạn sẽ làm gì? Bình tĩnh đối mặt, tìm cách giải quyết? Hay sợ hãi, thoái lui, chấp nhận số phận? Mỗi người sẽ có những cách phản ứng khác nhau, tuy nhiên cách phản ứng tốt nhất với những khó khăn chính là đối diện với nó, nỗ lực gấp đôi để vượt qua thử thách và vươn đến thành công.

- Không có vấp ngã sẽ không tôi rèn được ý chí, không có thử thách sẽ không tạo ra những thành công. Bởi vậy, đứng trước khó khăn dù lớn hay nhỏ cũng hãy bình tĩnh đối mặt và vượt qua nó.

- Mở rộng vấn đề: phê phán những kẻ yếu đuối, thiếu ý chí, nghị lực khi vấp ngã trong cuộc sống.

- Bài học:

+ Là thế hệ trụ cột của đất nước trong tương lai, việc rèn luyện nghị lực sống là việc vô cùng quan trọng, cần thiết cho hành trang vào đời sau này của mỗi chúng ta.

+ Muốn thành công, muốn tới vinh quang thì con đường đi lại càng trông gai thử thách, ở đó không có chỗ cho những kẻ thiếu ý chí, thiếu nghị lực vươn lên.

d. Sáng tạo: cách diễn đạt độc đáo, có suy nghĩ riêng về vấn đề nghị luận

e. Chính tả, dùng từ đặt câu: đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt

Câu 2: 

a. Đảm bảo cấu trúc của một bài văn nghị luận: Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề gồm nhiều ý/đoạn văn, kết bài kết luận được vấn đề.

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận:

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; có sự kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. HS có thể trình bày bằng các cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau:

* Mở bài:

- Giới thiệu khái quát về tác giả Tô Hoài, tác phẩm Vợ chồng A Phủ và vấn đề nghị luận.

- Trích dẫn đọan trích.

* Thân bài: 

+ Nội dung: Sức sống tiềm tàng mãnh liệt của nhân vật Mị:

---(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 3 vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy)---

 

Trên đây là một phần trích đoạn nội dung Bộ 3 đề thi thử THPT QG môn Ngữ văn năm 2021 Trường THPT Phan Đình Phùng. Để xem thêm nhiều tài liệu tham khảo hữu ích khác các em chọn chức năng xem online hoặc đăng nhập vào trang Hoc247.net để tải tài liệu về máy tính.

Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các em học sinh ôn tập tốt và đạt thành tích cao trong học tập.

Chúc các em học tập tốt !

VIDEO
YOMEDIA
Trắc nghiệm hay với App HOC247
YOMEDIA
NONE
OFF