OPTADS360
ATNETWORK
ADS_ZUNIA
YOMEDIA
Banner-Video
IN_IMAGE

Hướng dẫn soạn Hịch tướng sĩ

Mn thiết kế hộ mình các dạng câu hỏi và trả lời bài Hịch tướng sĩ 2 đoạn nhé

Cảm ơn nha.

Nhanh mình cần gấp

  bởi thanh hằng 25/10/2018
ADMICRO/lession_isads=0

Câu trả lời (3)

  • Soạn bài: Hịch tướng sĩ

    Bố cục:

    Chia làm 4 phần:

    - Phần 1 ( từ đầu … còn lưu tiếng tốt): Nguyên lý đạo đức hay chính trị làm cơ sở tư tưởng.

    - Phần 2 ( tiếp…ta cũng vui lòng): Nêu thực trạng đất nước đang bị giặc ngoại xâm.

    - Phần 3 (Các người ở cùng ta…không muốn vui vẻ phỏng có được không?): Nêu giải pháp .

    - Phần 4 (còn lại) Lời hiệu dụ, kêu gọi tướng sĩ.

    Hướng dẫn soạn bài

    Câu 1 (trang 61 sgk Ngữ văn 8 tập 2):

    Bố cục của toàn văn bản Hịch tướng sĩ.

    Chia là 4 phần:

    + Phần 1 (từ đầu … đến nay còn lưu tiếng tốt) Tác giả dẫn ra những gương trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước lưu truyền trong sử sách.

    + Phần 2( tiếp … ta cũng vui lòng) Bộc lộ sự căm phẫn trước sự hống hách của giặc.

    + Phần 3 ( tiếp … không muốn vui vẻ cùng ta có được không) Phân tích phải trái, đúng sai định hướng hàng ngũ quân sĩ.

    + Phần 4 (còn lại) Lời khích lệ, hiệu dụ tướng lĩnh.

    Câu 2 ( trang 61 sgk Ngữ văn 8 tập 2) :

    Tác giả vạch ra tội ác và sự hống hách, ngang ngược của giặc:

    - Bộ mặt của giặc được phơi bày bằng những việc trong thực tế:

    + Đi lại nghênh ngang, sỉ mắng triều đình.

    + Bắt nạt tể phụ, đòi lụa ngọc, thu vàng bạc, vét của kho.

    → Lột tả bộ mặt ngang ngược, thói tham lam, sự độc ác của những quân giặc, đồng thời bày tỏ sự căm phẫn, thái độ khinh bỉ cực độ của tác giả.

    - Sử dụng lối nói so sánh, ẩn dụ:

    + So sánh quân giặc với thân dê chó, lưỡi cú diều.

    + Hình ảnh được đặt trong thế đối sánh để tỏ rõ sự căm thù, khinh bỉ cực độ: uốn lưỡi cũ diều- sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó- bắt nạt tể phụ.

    → Tố cáo tội ác của giặc, tác giả đã khơi gợi lòng tự tôn, tự trọng dân tộc, khơi gợi lòng tướng sĩ thái độ căm phẫn trước kẻ thù và trách nhiệm với đất nước.

    Câu 3( trang 61 sgk Ngữ Văn 8 tập 2):

    Sau khi tố cáo tội ác của giặc, Trần Quốc Tuấn trực tiếp bày tỏ lòng yêu nước, căm thù giặc của mình.

    - Nỗi đau nước mất nhà tan được diễn tả thống thiết:

    + Quên ăn, mất ngủ, lòng đau như dao cắt, nước mắt đầm đìa.

    - Uất hận lên tới đỉnh điểm khi tác giả bộc lộ thái độ căm phẫn, muốn tiêu diệt kẻ thù:

    + Căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù.

    - Vị tướng nguyện một lòng xả thân vì sự nghiệp bảo vệ đất nước:

    + Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, … ta cũng vui lòng.

    → Nổi bật hình tượng người anh hùng yêu nước, khảng khái, sẵn sàng xả thân vì nước. Dốc hết những lời gan ruột để lay động quân sĩ tình yêu nước, thái độ căm thù giặc.

    Câu 4 (trang 61 sgk Ngữ Văn 8 tập 2):

    Trần Quốc Tuấn phê phán hành động sai trái của tướng sĩ, đồng thời khẳng định những hành động đúng nên làm là có dụng ý:

    + Trần Quốc Tuấn nghiêm khắc phê phán thái độ thờ ơ, vô trách nhiệm của tướng sĩ khi đất nước bị làm nhục.

    + Tập trung phê phán những thú vui tầm thường, hành động sai trái: thích rượu ngon, mê gái đẹp, ưa săn bắn.

    + Thức tỉnh sự tự ý thức, trách nhiệm, tự nhìn nhận

    + Chấn chỉnh suy nghĩ, hành động của tướng sĩ cho đúng đắn:

    - Khi phê phán hoặc khẳng định tác giả đều tập trung vào vấn đề nêu cao tinh thần cảnh giác, chăm lo rèn luyện để chiến thắng kẻ thù xâm lược.

    - Lời nói đanh thép như trách mắng tướng sĩ "không biết lo", "không biết thẹn", "không biết căm tức".

    → Khi chỉ ra những điều sai trái nghĩa quân, tướng sĩ phạm để thức tỉnh ý thức tự tôn dân tộc, qua đó vạch ra hướng đi đúng đắn, quyết tâm tiêu diệt kẻ thù là mục đích cốt yếu.

    Câu 5 (trang 61 sgk Ngữ văn 8 tập 2):

    - Giọng văn linh hoạt:

    + Lúc của chủ tướng nói với tướng sĩ, binh lính.

    + Lúc là người cùng cảnh ngộ (suy cho cùng khi nước bị giặc xâm lược.

    - Dùng giọng ân tình, gần gũi để khuyên răn thiệt hơn: "các ngươi ở cùng ta… lúc vui cười".

    - Giọng nghiêm khắc trách cứ, cảnh cáo những hành động sai lầm, thái độ thờ ơ, tác trách của quân sĩ khi đất nước lâm nguy.

    - Thẳng thắn đưa ra những lời lẽ gay gắt để khích tướng, thức tỉnh quân sĩ: " không biết lo", " không biết thẹn".

    → Dù Trần Quốc Tuấn có sử dụng giọng ân cần khuyên răn hay giọng nghiêm nghị trách giận thì tất cả đều nhằm gợi lên ý thức, trách nhiệm của tướng sĩ với non sông, xã tắc., kêu gọi sự đồng tâm hiệp lực.

    Câu 6 (trang 61 sgk Ngữ văn 8 tập 2) :

    Đặc sắc nghệ thuật góp phần tạo nên sức thuyết phục cho văn bản:

    - Thủ pháp so sánh tương phản : Làm nổi bật hình ảnh đau thương người dân mất nước >< hình ảnh ngang ngược, tàn bạo của giặc Nguyên- Mông.

    - Thủ pháp trùng điệp- tăng tiến được kết hợp với thủ pháp so sánh- tương phản nhằm tạo giọng điệu hùng hồn, trùng điệp, khắc vào tâm trí người đọc.

    - Lập luận chặt chẽ, sắc bén với lời văn đanh thép.

    - Sử dụng các biện pháp tu từ: so sánh, điệp từ, điệp ngữ, điệp ý…

    - Linh hoạt trong cách sử dụng giọng điệu trong văn bản.

    → Nghệ thuật lập luận sắc bén, linh hoạt kết hợp với các thủ pháp tiêu biểu, lời lẽ khi tha thiết, khi nghiêm nghị nhằm tạo ra áng văn chính luận đanh thép, có sức thuyết phục cao.

    Câu 7 ( trang 61 sgk Ngữ Văn 8 tập 2):

    Lược đồ thể hiện cách triển khai lập luận: khích lệ nhiều mặt để tập trung vào một hướng

    Soạn văn lớp 8 | Soạn bài lớp 8

    Luyện tập

    Bài 1 ( trang 61 sgk Ngữ văn 8 tập 2)

    Phát biểu về lòng yêu nước của Trần Quốc Tuấn được thể hiện qua bài hịch.

    Hịch tướng sĩ là áng văn bất hủ mọi thời đại phản ánh tinh thần yêu nước nồng nàn của vị tướng tài hết lòng vì dân tộc trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Lòng căm thù giặc thể hiện qua việc quên ăn, quên ngủ, “ruột đau như cắt” căm phẫn tội ác và sự hống hách của giặc Thanh. Nỗi đau mất nước được tác giả diễn tả thống thiết, cùng với niềm uất hận trào dâng khi tác giả bộc lộ sự căm phẫn của mình với kẻ thù. Vị tướng đã tự xác định tinh thần đấu tranh hi sinh, xả thân vì nước được khắc họa rõ nét. Những lời tâm huyết của Trần Quốc Tuấn cho thấy đây là vị tướng tài có sức lay động mạnh mẽ, truyền được lòng yêu nước nồng nàn, ý chí căm thù giặc sôi sục và một thái độ sẵn sàng hi sinh vì đất nước.

    Bài 2 ( trang 61 sgk Ngữ văn 8 tập 2)

    Hịch tướng sĩ có lập luận chặt chẽ, sắc bén, giàu hình tượng cảm xúc , do đó có sức thuyết phục cao.

    Để khích lệ tinh thần yêu nước, quyết chiến thắng kẻ thù xâm lược được thể hiện thông qua các lập luận.

    - Khích lệ lòng căm thù ngoại xâm, nỗi nhục của kẻ mất nước.

    - Khích lệ tinh thần trung quân ái quốc, ý thức ân nghĩa thủy chung.

    - Khích lệ ý chí lập công danh, vì đất nước cũng là vì chính mình.

    - Khích lệ ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng trước điều hơn lẽ thiệt.

    → Những lời tâm huyết, gan ruột của vị tướng có sức lay động mạnh mẽ, truyền cho tướng sĩ, đồng thời khẳng định tình yêu nước tha thiết.

      bởi Nguyễn Thị Thuận Thành 25/10/2018
    Like (0) Báo cáo sai phạm
  • - Tự thống kê các câu nghi vấn trong bài Hịch tướng sĩ (chú ý dựa vào các dấu hiệu như dấu chấm hỏi, các từ nghi vấn).

    - Những câu nghi vấn đứng ở cuối các đoạn văn thường dùng để khẳng định hay phủ định điều đã được nêu ra trong câu ấy, đoạn ấy.

    - Còn các câu nghi vấn đứng ở đầu đoạn thường dùng để nêu vấn đề.

      bởi H Yziang 25/10/2018
    Like (0) Báo cáo sai phạm
  • Câu 1: Bài hịch bố cục thành 4 đoạn:

    - Đoạn 1 (từ đầu đến "còn lưu tiếng tốt"): Nêu những gương trung thần nghĩa sĩ trong sử sách để khích lệ ý chí lập công danh, xả thân vì nước.

    - Đoạn 2 (từ "Huống chi" đến "cũng vui lòng"): Tố cáo sự hống hách và tội ác của kẻ thù, đồng thời nói lên lòng căm thù giặc.

    - Đoạn 3 (từ "Các ngươi" đến "không muốn vui vẻ phỏng có được không?"): Phân tích phải trái, làm rõ đúng sai trong lối sống, trong hành động của các tướng sĩ.

    - Đoạn 4 (đoạn còn lại): Nêu nhiệm vụ cụ thể, cấp bách, khích lộ tinh thần chiến đấu của tướng sĩ.

    Câu 2: Tội ác và sự ngang ngược của kẻ thù:

    - Kẻ thù tham lam tàn bạo: đòi ngọc lụa, hạch sách bạc vàng, vét kiệt của kho có hạn, hung hãn như hổ đói. Kẻ thì ngang ngược đi lại nghênh ngang ngoài đường, bắt nạt tể phụ.

    - Những hình tượng ẩn dụ "lưỡi cú diều", "thân dê chó" để chỉ sứ Nguyên cho thấy nỗi căm giận và lòng khinh bỉ giặc của Hưng Đạo Vương. Đồng thời, đặt những hình tượng đó trong thế tương quan "lưỡi cú diều", "xỉ mắng triều đình", "thân dê chó", "bắt nạt tể phụ". Trần Quốc Tuấn đã chỉ ra nỗi nhục lớn của mọi người khi chủ quyền đất nước bị xâm phạm.

    Đoạn văn tố cáo tội ác giặc đã khơi gợi được lòng căm thù giặc, khích lệ tinh thần yêu nước bất khuất, ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của tướng sĩ.

    Câu 3: Lòng yêu nước căm thù giặc của Trần Quốc Tuấn thể hiện qua:

       + Hành động: quên ăn, mất ngủ, đau đớn đến thắt tim, thắt ruột.

       + Thái độ: uất ức, căm tức khi chưa trả thù, sẵn sàng hy sinh để rửa mối nhục cho đất nước.

    Câu văn giàu tâm huyết của người viết khi nói về tinh thần sẵn sàng hi sinh để rửa mối nhục cho đất nước: "Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng".

    Câu 4:

    Sau khi nêu mới ân tình giữa chủ soái và tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn phê phán những hành động sai của tướng sĩ, đồng thời khẳng định những hành động nên làm nhằm thức tỉnh sự tự ý thức, trách nhiệm, tự nhìn nhận lại mình để điều chỉnh suy nghĩ cũng như hành động của tướng sĩ.

    Khi phê phán hay khẳng định, tác giả đều tập trung vào vấn đề đề cao tinh thần cảnh giác, chăm lo rèn luyện để chiến thắng kẻ thù xâm lược. Bởi vì, bài hịch này dù trực tiếp là nhằm khích lệ tiến sĩ học tập cuốn Binh thư yếu lược do chính Trần Quốc Tuấn biên soạn, nhưng mục đích cao nhất chính là kêu gọi tinh thần yêu nước quyết chiến quyết thắng với ngoại xâm.

    Câu 5:

    Giọng văn rất linh hoạt, có khi là lời vị chủ soái nói với tướng sĩ dưới quyền, có khi là lời người cùng ảnh, lúc là lời khuyên răn bày tỏ thiệt hơn, khi lại là lời nghiêm khắc cảnh cáo.

    Sự thay đổi giọng điệu như vậy phù hợp với nội dung cảm xúc và thái độ của tác giả, tác động cả về trí lẫn tình cảm, khơi dậy trách nhiệm của mọi người đối với chủ tướng cũng như với bản thân họ.

    Câu 6: Đặc sắc nghệ thuật:

    - Giọng văn khi bi thiết nghẹ ngào, lúc sục sôi hùng hồn, khi mỉa mai chế giễu, khi nghiêm khắc như xỉ mắng, lại có lúc ra lệnh dứt khoát.

    - Kết cấu chặt chẽ, lập luận sắc bén.

    - Sử dụng kiểu câu nguyên nhân - kết quả.

    - Biện pháp tu từ: so sánh, điệp từ ngữ, điệp ý tăng tiến, phóng đại ...

    - Sử dụng những hình tượng nghệ thuật gợi cảm, dễ hiểu.

    Câu 7:

    Soạn văn 8 | Soạn bài 8

    II. Luyện tập

    Câu 1:

    Đọc bài hịch, ta có cảm tưởng như mỗi chữ, mỗi câu văn đều là những lời gan ruột của người anh hùng Trần Quốc Tuấn. Sau những câu văn hùng hồn, thấm đượm là hình ảnh người anh hùng yêu nước xót đau đến quặn lòng vì nước non bị quân thù giày xéo, là ngọn lửa căm thù hừng hực cháy trong tim, là sự nóng lòng rửa nhục đến quên ăn mất ngủ. Khi bày tỏ những đớn đau dằn vặt tự đáy lòng mình, chính Trần Quốc Tuấn đã nêu ra một tấm gương bất khuất về lòng yêu nước để cho tướng sĩ noi theo. Và như thế cũng có nghĩa là nó có sức động viên rất lớn đối với tinh thần tướng sĩ.

    Câu 2: "Hịch tướng sĩ" vừa có lập luận chặt chẽ, sắc bén vừa giàu hình tượng, cảm xúc:

    - Lập luận chặt chẽ sắc bén (kết cấu gồm 3 phần - xem câu 1, lý lẽ sắc bén có xưa - nay, gồm hơn - thiệt, trách nhiệm - quyền lợi,…, dẫn chứng sử sách chính xác, dễ hiểu).

    - Giàu hình tượng, cảm xúc khi thống thiết, khi sục sôi, khi nghiêm khắc, lúc lại ân tình ...

      bởi Jeff the Killer 18/08/2019
    Like (0) Báo cáo sai phạm

Nếu bạn hỏi, bạn chỉ thu về một câu trả lời.
Nhưng khi bạn suy nghĩ trả lời, bạn sẽ thu về gấp bội!

Lưu ý: Các trường hợp cố tình spam câu trả lời hoặc bị báo xấu trên 5 lần sẽ bị khóa tài khoản

Gửi câu trả lời Hủy
 
 

Các câu hỏi mới

NONE
OFF