HOC247 xin cung cấp đến các em học sinh nội dung tài liệu Bộ 3 đề thi thử THPT QG năm 2021 môn Ngữ văn Trường THPT Nguyễn Trung Trực được sưu tầm và tổng hợp với các câu hỏi từ dễ đến khó sẽ giúp các em ôn luyện kiến thức thật hiệu quả. Mời các em cùng theo dõi.
|
TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRUNG TRỰC |
ĐỀ THI THỬ THPT QG MÔN: NGỮ VĂN NĂM HỌC: 2021 (Thời gian làm bài: 120 phút) |
ĐỀ SỐ 1
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Bóng quê
chị lành như thể bát nước mưa em hứng đầu mùa
dịu dàng như thể điệu rơi của hoa cau trước ngõ
hồn nhiên như thể sự lớn lên của ngọn rau cọng cỏ
giàu đức hi sinh như thể đất trong vườn
nhân từ như thể chái bếp cây rơm
mộng mơ như thể hoa khế rắc tím sân nhà nhỏ
em đi xa kí ức giàu có
hương quê nưng nức nồi nước xông chị nấu bảy thứ lá cây
và cả dáng quê nghiêng chao sóng nước trời mây
dáng chị gập người bên chậu quần áo ven bờ sông ngày nắng
…
(Khát vọng mùa – Hoàng Đăng Khoa, NXB Hội nhà văn 2016, tr.17)
Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính.
Câu 2. Nêu biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ đầu.
Câu 3. Hình ảnh “dáng chị gập người bên chậu quần áo ven bờ sông ngày nắng” gợi cho anh/chị điều gì?
Câu 4. Thông điệp nhà thơ gửi gắm qua đoạn trích?
II. LÀM VĂN
Câu 1.
Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về tình quê hương được gợi ra từ phần Đọc hiểu.
Câu 2.
Rượu đã tan lúc nào. Người về, người đi chơi đã vãn cả. Mị không biết, Mị vẫn ngồi trơ một mình giữa nhà. Mãi sau Mị mới đứng dậy, nhưng Mị không bước ra đường chơi, mà từ từ bước vào buồng. Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết. Mị cũng chẳng buồn đi. Bấy giờ Mị ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng. Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết. Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau! Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra. Mà tiếng sáo gọi bạn yêu cũng lửng lơ bay ngoài đường.
Anh ném pao, em không bắt
Em không yêu, quả pao rơi rồi…
(Trích Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài, Ngữ Văn 12, Tập 2, NXB Giáo dục 2008, tr 7-8)
Cảm nhận của anh/chị về tâm trạng nhân vật Mị trong đoạn văn trên.
Từ đó, liên hệ với tâm trạng nhân vật Chí Phèo trong đoạn trích sau để thấy được khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của người lao động trong xã hội cũ:
Nhưng bây giờ thì hắn tỉnh. Hắn bâng khuâng như tỉnh dậy sau một cơn say rất dài. Cũng như những người say tỉnh dậy, hắn thấy miệng đắng, lòng mơ hồ buồn. Người thì bủn rủn, chân tay không buồn nhấc. Hay là đói rượu? Nghĩ đến rượu, hắn hơi rùng mình. Ruột gan lại nôn nao lên một tí. Hắn sợ rượu cũng như người ốm thường sợ cơm. Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá. Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chả có. Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy… Chao ôi là buồn!
- Vải hôm nay bán mấy?
- Kém ba xu, dì ạ!
- Thế thì còn ăn thua gì!
- Có khéo co mới được một tấm năm xu.
- Thật thế đấy. Những chẳng lẽ rằng lại chơi…
Chí Phèo đoán chắc rằng một người đàn bà hỏi một người đàn bà khác đi bán vải ở Nam Định về. Hắn lại nao nao buồn, vì là mẩu chuyện ấy nhắc cho hắn một cái gì rất xa xôi. Hình như có một thời hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm.
(Trích Chí Phèo – Nam Cao, Ngữ Văn 11, Tập 1, NXB Giáo dục 2007, tr.149)
---- HẾT ----
ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 1
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
- Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm.
Câu 2:
- Biện pháp tu từ: so sánh, điệp cấu trúc ( … như thể …)
Câu 3:
- Hình ảnh “dáng chị gập người bên chậu quần áo ven bờ sông ngày nắng” gợi:
+ Hình ảnh đẹp, người chị tảo tần, lam lũ với công việc thường ngày.
+ Hình ảnh đó còn gợi về những kí ức đẹp đẽ của tuổi thơ, kỉ niệm về quê hương.
Câu 4:
- Thông điệp của bài thơ: Quê hương là gia đình, là người thân, là nguồn nuôi dưỡng tâm hồn mỗi con người. Những kỉ niệm tuổi thơ là nguồn động lực để mỗi chúng ta không ngừng nỗi lực, cố gắng.
II. LÀM VĂN
Câu 1:
* Giới thiệu vấn đề
* Giải thích vấn đề
- Quê hương: là nơi ta được sinh ra, được nuôi dưỡng trưởng thành. Quê hương là nơi gắn liền với những kỉ niệm, gắn với gia đình thân thương, ruột thịt.
=> Tình yêu quê hương là một thứ tình cảm thiêng liêng, cao quý của mỗi cá nhân dành cho đất nước mình.
* Bàn luận vấn đề
- Biểu hiện tình yêu quê hương.
+ Thời kì chiến tranh: Các chiến sĩ đã không ngại gian khổ hiểm nguy đã cầm súng đánh giặc và giành lại độc lập cho đất nước. Những người ở hậu phương không ngừng tăng gia sản xuất để cung cấp lương thực thực phẩm cho tuyền tiến.
+ Thời kì hòa bình hiện nay: Cố gắng, không ngừng nỗ lực học tập, tiếp thu tri thức mới để xây dựng đất nước giàu mạnh.
- Vai trò của quê hương với mỗi chúng ta:
+ Là nơi nuôi dưỡng chúng ta trưởng thành, là cái nôi khiến đời sống tâm hồn ta thêm phong phú, tốt đẹp.
+ Quê hương là động lực để mỗi người không ngừng nỗ lực, cố gắng.
- Vai trò trách nhiệm của thế hệ trẻ:
+ Không ngừng nỗ lực học tập, rèn luyện, trau dồi đạo đức để trở thành con người đủ sức, đủ tài để xây dựng quê hương đất nước.
+ Nghiêm túc, tự giác chấp hành các chính sách pháp luật của nhà nước, các nội quy, quy định của nhà trường, cơ quan công tác…
+ Dũng cảm đấu tranh chống lại cái ác, cái xấu.
* Mở rộng vấn đề và liên hệ bản thân
- Bên cạnh những người luôn phấn đấu để xây dựng đất nước giàu mạnh lại có những kẻ thờ ơ, thậm chí chống phá lại chính quê hương mình. Bên cạnh đó một số người tài giỏi được cử ra nước ngoài học, cũng không trở về quê hương góp phần xây dựng đất nước, đó quả là một điều đáng buồn.
- Liên hệ bản thân.
Câu 2:
1. Giới thiệu tác giả Tô Hoài, tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”
- Tô Hoài là cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Sáng tác của ông thiên về diễn tả sự thực đời thường. Ông có vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về phong tục, tập quán của nhiều vùng khác nhau trên đất nước ta. Ông cũng là nhà văn luôn hấp dẫn người đọc bởi lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động của người từng trải, vốn từ vựng giàu có.
- Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ (1952) in trong tập Truyện Tây Bắc được tặng giải Nhất – Giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955.
2. Phân tích
2.1. Giới thiệu về nhân vật Mị
* Chân dung, lai lịch:
- Nhan sắc: “trai đến đứng nhẵn chân vách đầu buồng Mị” ⟶ nhan sắc rực rỡ ở tuổi cập kê.
- Tài năng: thổi sáo, thổi lá. Hay đến mức có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị.
- Phẩm chất tốt đẹp: Khi bố mẹ Mị hết đời chưa trả được món nợ cho thống lí Pá Tra, thống lí Pá Tra định bắt Mị về làm con dâu gạt nợ:
+ Hiếu thảo:“ Con sẽ làm nương ngô giả nợ thay cho bố”
+ Tự ti vào khả năng lao động: “Con nay đã biết cuốc nương làm ngô”
+ Khao khát tự do: “Bố đừng bán con cho nhà giàu”
=> Xứng đáng được hưởng hạnh phúc nhưng lại bị xã hội của tiền quyền, cường quyền và thần quyền vùi dập, đẩy vào ngã rẽ tăm tối.
* Số phận bất hạnh: bị biến thành con dâu gạt nợ.
- Nguyên nhân:
+ Do món nợ truyền kiếp.
+ Vì Mị bị A Sử lừa bắt về do hủ tục cướp vợ của người dân tộc thiểu số.
- Ban đầu mới về, Mị phản kháng nhưng yếu ớt rồi muốn tự tự nhưng đến khi quen dần Mị chịu sự đày ải cả về thể xác lẫn tinh thần.
* Phân tích tâm trạng của Mị trong đoạn trích trên
- Hoàn cảnh: Trong đêm tình mùa xuân với khung cảnh đặc trưng của vùng núi:
+ Khung cảnh ngày xuân:
- Màu sắc rực rỡ: cỏ gianh vàng ửng, những chiếc váy phơi trên mỏm đá xòe rộng ra như những cánh bướm sặc sỡ.
- Âm thanh náo nhiệt, tưng bừng: tiếng trẻ con chờ tết chơi quay cười ầm trên sân chơi trước nhà …
+ Tiếng sáo: có sự dịch chuyển, vận động:
- Từ xa đến gần (Từ ngoài vào trong, từ khách thể nhập vào chủ thể):
- Từ hiện tại đến quá khứ (Từ cõi thực đến cõi mộng).
- Tiếng sáo rủ bạn đi chơi đầy háo hức ⟶ tiếng sáo gọi bạn yêu trong tuyệt vọng.
=> Dìu hồn Mị bềnh bồng sống lại với những khát khao yêu thương hạnh phúc của ngày xưa, dẫn Mị từ cõi quên trở về cõi nhớ.
+ Hơi rượu:
- Uống cả hũ rượu
- Uống ực từng bát
=> Say lịm mặt ngồi đấy ⟶ Lãng quên hiện tại ⟶ Sống lại quá khứ.
* Diễn biến tâm trạng của Mị trong đoạn trích:
- Sức sống tiềm tàng:
+ Mị thấy “phơi phới” trở lại, “vui sướng”
+ Thức dậy ý thức và khát vọng: “Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi”.
+ Thực tại hiện hữu: Mị muốn đi chơi nhưng lại không đi chơi, Mị đi vào buồng. Trong hơi rượu, sức sống tiềm tàng lại trỗi dậy
- Mị như ở trạng thái mộng du, vượt thoát hoàn cảnh để tìm lại chính mình.
- Mị lại trở lại thực tại và buồn tủi cho thân phận của chính mình “Huống chi Mị với A Sử, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau!”.
- Tiếng sáo ngoài kia vẫn như đánh thức, vẫy gọi Mị “tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường”.
2.2. Liên hệ với nhân vật Chí Phèo trong đoạn trích
* Giới thiệu tác giả Nam Cao, tác phẩm Chí Phèo
* Giới thiệu nhân vật Chí Phèo và tóm tắt cuộc đời Chí Phèo
* Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Chí Phèo trong đoạn trích trên
- Chí Phèo tỉnh rượu:
+ Chí Phèo bị cảm lạnh, ốm ⟶ tỉnh.
+ Chí nhận thức được cuộc sống xunh quanh:
- Ánh sáng: mặt trời chắc đã lên cao và nắng chắc đã rực rỡ.
- Âm thanh: tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá, tiếng những người đàn bà đi chợ bán vải về, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá.
- Nhận thức về bản thân:
+ Nhớ về quá khứ tươi đẹp.
+ Quay về với thực tại: số không tròn trĩnh (không vợ con, không tài sản…), số âm (nhận thấy mình đã sang dốc bên kia của cuộc đời)
+ Nghĩ về tương lai: đói rét, ốm đau, cô độc.
---(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 1 vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy)---
ĐỀ SỐ 2
I. ĐỌC – HIỂU
Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi:
“Sẽ dối lòng nếu không thừa nhận trái tim tan vỡ, nhưng…”
Sẽ là dối lòng mình nếu nói rằng không mong chờ một chiến thắng.
Sẽ là dối lòng mình nếu không thừa nhận cảm thấy trái tim tan vỡ khi đội tuyển chịu thất bại ở những giây cuối cùng.
Nhưng tôi nghĩ kết quả như vậy thậm chí còn tuyệt với hơn về lâu dài.
Kết quả trận chung kết này tốt ở chỗ nó nhắc nhở tất cả chúng ta công việc còn ngổn ngang những thứ phải làm. Một chiến thắng dễ đưa chúng ta đến với sự ngạo mạn nguy hiểm.
Kết quả này cũng dạy cho chúng ta cách yêu thương những điều không hoàn hảo. Yêu cả trong những lúc đau lòng. Trân trọng và nhìn nhận sự cống hiến, chứ không đặt điều kiện tình yêu của mình vào sự tuyệt đối – một thứ quá mong manh.
Kết quả này cũng dạy cho chúng ta phải học cách vui với những gì mình đạt được, dù không thật sự tuyệt đối. Niềm tin dựa vào chiến thắng cũng giống như một chất nghiện, nó liên tục cần những thứ lớn hơn, to tát hơn để tiếp tục vui. Nếu không biết kiểm soát nó, nó biến chúng ta thành những người đòi hỏi vô lý. Nó cũng làm chúng ta quên lý do nên vui.
Cuối cùng, điều to lớn nhất chúng ta học được ở U23 Việt Nam lần này là với những nỗ lực đến kiệt cùng, với kỷ luật sắt đá, với niềm tin tuyệt đối và cái tôi của từng cá nhân gạt qua một bên nhường cho tinh thần đồng đội mãnh liệt, họ đã làm được điều kỳ diệu đến không tưởng.
Bao nhiêu người thấm được điều này? Tôi hy vọng là nhiều, rất nhiều. Và biến nó thành động lực cho chính mình để đặt cho mình một mục tiêu khó hơn, thách thức hơn, và có quyết tâm cao hơn để vượt qua.
Tôi mong mỏi có những cuộc tập hợp, những cuộc xuống đường trong lòng mỗi người. Và mong rằng nó kéo dài mãi. Nó biến sự hân hoan và ngưỡng mộ thành năng lượng để chúng ta tự chiến thắng trong trận chiến của riêng mình.
Nếu được như thế, thì cái mà đội tuyển U23 đem lại không chỉ là “mua vui cũng được một vài trống canh” mà thực sự là một sự thay đổi đẹp đẽ trên dải đất chữ S này. Thế nên hãy buồn hãy khóc. Hãy ôm nhau thổn thức vì một giấc mơ vuột trôi đi. Nhưng sau đó hãy gạt nước mắt và đứng thẳng dậy. Để đất nước này đẹp hơn, không thể chỉ dựa vào các chàng trai vàng. Các em ấy đã cho chúng ta một cảm hứng mạnh mẽ, một sự tự tin chưa từng có. Nhưng chúng ta phải cùng xắn tay áo lên và hành động.
Riêng tôi, năm nay tôi sẽ quyết tâm rũ bỏ thể trạng yếu đuối mà 40 năm qua không thay đổi được. Bắt đầu bằng việc chạy. Tôi sẽ chạy half marathon (cự ly chạy bộ 21 km) trong năm 2018. Và sẽ không gì làm lung lay được mục tiêu này.
Còn bạn thì sao?
(Trần Vinh Dự - newzing.vn 27/01/2018)
Câu 1: Chỉ ra biện pháp tu từ ngữ pháp được sử dụng trong hai câu văn mở đầu văn bản.(nhận biết)
Câu 2: Vì sao tiến sĩ Trần Vinh Dự lại khẳng định: “kết quả như vậy thậm chí còn tuyệt vời hơn về lâu dài”? (thông hiểu)
Câu 3: Theo anh/chị, thế nào là “những cuộc tập hợp, những cuộc xuống đường trong lòng mỗi người”?(thông hiểu)
Câu 4: Anh/chị có đồng tình với thông điệp mà tác giả đưa ra “Chúng ta phải xắn tay áo lên và hành động” không? Vì sao? (thông hiểu)
II. LÀM VĂN
Câu 1:
Từ nội dung văn bản Đọc – hiểu và hình ảnh U23 Việt Nam được đón chào giữa rừng cờ, rừng hoa và biển người trong ngày trở về Tổ quốc, 28/1/2018, gợi cho anh/chị những bài học cuộc sống gì? Hãy trình bày suy nghĩ bằng một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ).(Vận dụng cao)
Câu 2:
Kết lại bài thơ “Vội vàng”, nhà thơ Xuân Diệu viết:
Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi.
(Vội vàng – Xuân Diệu – SGK Ngữ Văn 11 tập Hai)
Trong phần kết của bài thơ “Sóng” nữ sĩ Xuân Quỳnh viết:
Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa.
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu.
Để ngàn năm còn vỗ.
(Sóng – Xuân Quỳnh – SGK Ngữ Văn 12 tập Một)
Cảm nhận của anh/chị về khát vọng sống của hai nhà thơ qua các khổ thơ trên.(Vận dụng cao)
---- HẾT ----
ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 2
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
- Biện pháp tư từ: Điệp cấu trúc: Sẽ là dối lòng mình nếu.
Câu 2:
Tiến sĩ Trần Vinh Dự khẳng định “kết quả như vậy thậm chí còn tuyệt vời về lâu dài”:
- Kết quả này nhắc nhở chúng ta còn nhiều việc phải làm, cần cố gắng nhiều hơn nữa.
- Kết quả này cũng dạy chúng ta cách yêu những điều không hoàn hảo. Trân trọng và nhìn nhận sự cống hiến, không đặt điều kiện tình yêu của mình vào sự tuyệt đối – một thứ quá mong manh.
- Kết quả này dạy cho ta cách vui với những gì đạt được, dù không thật sự tuyệt đối.
- Điều to lớn nhất là lần này với những nỗ lực kiệt cùng, kỉ luật sắt đá, niềm tin tuyệt đối và cái tôi của từng cá nhân gạt qua một bên nhường cho tinh thần đồng đội mãnh liệt, họ đã làm nên điều kì diệu không tưởng.
Câu 3:
- “Những cuộc tập hợp, những cuộc xuống đường trong lòng mỗi người” có nghĩa là: mọi người đồng lòng, nhất trí, cùng hướng đến một mục tiêu, mục đích.
Câu 4:
- Đồng ý với thông điệp của tác giả.
- Vì: Nếu muốn thay đổi thì điều tất yếu chúng ta cần phải hành động, hành động ở đây không chỉ là hoạt động của chân tay mà trước hết phải ở trong suy nghĩ sau đó biến nó thành những hành động thiết thực, cụ thể. Chỉ có hành động con người mới không bị ngưng trệ, xã hội mới có thể phát triển.
II. LÀM VĂN
Câu 1:
Mỗi thí sinh tự rút ra những bài học cuộc sống cho riêng mình, ví dụ như:
- Bài học về yêu những thứ không hoàn hảo, toàn vẹn.
- Bài học về sự đoàn kết, tinh thần đồng đội.
- Bài học về hành động để đạt thành công.
- Bài học về nỗ lực, cố gắng.
Với mỗi bài học thí sinh cần đảm bảo được những nội dung sau:
- Giải thích được vấn đề nghị luận.
- Vai trò ý nghĩa của vấn đề nghị luận trong cuộc sống.
- Lấy dẫn chứng chứng minh vấn đề nghị luận.
- Mở rộng vấn đề và liên hệ bản thân.
Câu 2:
1.
a. Giới thiệu tác giả Xuân Diệu, tác phẩm Vội vàng và đoạn trích thơ:
- Xuân Diệu là cây bút xuất sắc của văn học hiện đại Việt Nam. Ông là nhà thơ của tình yêu, của mùa xuân và tuổi trẻ với một giọng thơ sôi nổi, đắm say, yêu đời thắm thiết.
- Vội vàng được sáng tác năm 1938, in trong tập Thơ thơ, thi phẩm đầu tay và ngay lập tức vinh danh Xuân Diệu như một đại diện tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới.
- Đoạn trích trên là lời giục giã con người tận hưởng vẻ đẹp của cuộc sống trần gian. Đó cũng là khát sống mãnh liệt của nhà thơ.
b. Giới thiệu tác giả Xuân Quỳnh, tác phẩm Sóng và đoạn trích thơ:
- Xuân Quỳnh là gương mặt tiêu biểu thuộc thế hệ những nhà thơ trường thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc bình dị đời thường.
- Sóng được sáng tác 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), là một bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh. Bài thơ in trong tập Hoa dọc chiến hào.
- Đoạn trích trên thể hiện khát vọng được sống, được hóa thân vĩnh viễn vào tình yêu của muôn đời, muôn người.
2. Phân tích
2.1. Cảm nhận về khát vọng sống trong khổ thơ trích tác phẩm Vội vàng:
- Thay đổi đại từ “tôi” sang “ta”
=> Dường như có sự đồng thuận nào đó mà cảm xúc của “cái tôi” bỗng hòa nhập vào “cái ta” rộng mở.
- Dùng hàng loạt động từ mạnh theo cấp độ tăng tiến. Tác giả muốn tận hưởng bằng tất cả các giác quan.
- Việc sử dụng các bổ ngữ khiến câu thơ như bày ra bàn tiệc thịnh soạn của cuộc đời, có đầy đủ thanh sắc, đẹp vô cùng, tràn trề vô cùng.
- Liên từ “và”, “cho” … được lặp lại
=> Nhấn mạnh sự ăm ắp, thịnh soạn của bàn tiệc mùa xuân, bàn tiệc cuộc đời.
- Một loạt tính từ và cũng là từ láy: “chếnh choáng”, “đã đầy”, “no nê”
=> Diễn tả sự thỏa mãn tận cùng.
- Đoạn thơ khép lại bằng mong muốn:
+ Lời gọi: “hỡi xuân hồng” ⟶ mùa xuân không còn vô hình, trừu tượng mà trở thành con người hữu hình, thân thiết.
+ Biện pháp chuyển đổi cảm giác: “xuân” ⟶ “xuân hồng” ⟶ “muốn cắn” ⟶ mong muốn được hưởng thụ một cách trọn vẹn nhất.
=> Nhà thơ khao khát một cách lạ lùng: muốn thâu vào mình sắc hương, nhụy mật của cuộc đời để tận hưởng cảm giác “chếnh choáng mùi thơm”, “đã đầy ánh sáng”, “no nê thành sắc” không chỉ bằng “cái hôn” mà còn mạnh hơn gấp ngàn lần “muốn cắn vào ngươi”. Muốn cắn vào xuân là một ước muốn phi lí của thực tại nhưng lại được chấp nhận trong thơ, nó cho thấy khát vọng mãnh liệt và nét độc đáo trong phong cách biểu hiện.
2.2. Cảm nhận về khát vọng sống của nhà thơ trong đoạn trích tác phẩm Sóng:
* Hai khổ cuối là khát vọng dâng hiến và bất tử hóa tình yêu:
- Khổ thơ thứ tám là những suy tư về không gian, thời gian để từ đó bộc lộ nỗi khắc khoải, tự nhận thức về mình, về tình yêu và hạnh phúc. Có 2 cặp đối lập: câu 1 >< câu 2, câu 3 >< câu 4, khẳng định sự hữu hạn, nhỏ bé của đời người với dòng chảy vô thủy vô chung của thời gian và cái vô hạn của vũ trụ.
=> Nhà thơ khao khát tình yêu của mình hoà trong tình yêu của mọi người. “Tan ra” không phải mất đi mà hoà giữa cái chung và cái riêng. Tình yêu như thế không bao giờ cô đơn.
- Nghệ thuật:
+ Thể thơ năm chữ với âm điệu nhịp nhàng, dào dạt như những đợt sóng biển, sóng lòng bồi hồi da diết.
+ Hình ảnh thơ mộc mạc, giàu ẩn dụ, nhân hóa tài hoa.
2.3. Sự khác biệt và điểm tương đồng:
- Tương đồng: Hai đoạn trích đều thể hiện khát vọng mãnh liệt và dữ dội.
- Khác biệt:
+ Đoạn trích bài thơ Vội vàng:
- Đoạn trích bài thơ Vội vàng là khát vọng tình yêu với cuộc sống mãnh liệt.
- Giọng thơ sôi nổi, trẻ trung.
+ Đoạn trích bài thơ Sóng:
- Đoạn trích thể hiện khao khát được được bất tử hóa tình yêu.
- Giọng thơ dạt dào như những đợt sóng, biểu hiện tâm hồn phụ nữ vừa da diết lại vừa nồng cháy.
---(Để xem tiếp đáp án những câu còn lại vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy)---
ĐỀ SỐ 3
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
ngày chúng tôi đi
các toa tàu mở toang cửa
không có gì phải che giấu nữa
những thằng lính trẻ măng
tinh nghịch ló đầu qua cửa sổ
những thằng lính trẻ măng
quân phục xùng xình
chen bám ở bậc toa như chồi như nụ
con tàu nổi hiệu còi rung hết cỡ
và dài muốn đứt hơi
hệt tiếng gã con trai ồm ồm mới vỡ
thế hệ chúng tôi
hiệu còi ấy là một lời tuyên bố
một thế hệ mỗi ngày đều đụng trận
mà trách nhiệm nặng hơn nòng cối 82
vẫn thường vác trên vai
một thế hệ thức nhiều hơn ngủ
xoay trần đào công sự
xoay trần trong ý nghĩ
đi con đường người trước đã đi
bằng rất nhiều lối mới
(Một người lính nói về thế hệ mình – Thanh Thảo, 123, NXB Hội Nhà văn, 2007, tr. 63 – 64)
Câu 1. Trong văn bản trên, tác giả đã sử dụng thể thơ gì? Anh/ chị dựa vào đâu để xác định như vậy?
Câu 2. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính và nêu tên các biện pháp tu từ nổi bật trong văn bản.
Câu 3. Đại từ “chúng tôi” trong đoạn thơ chỉ đối tượng nào? Ngoài đại từ này, đối tượng đó còn được gọi tên bằng một số cụm từ khác. Hãy chép ra các cụm từ ấy.
Câu 4. “Thế hệ chúng tôi” được khắc họa trong văn bản có những đặc điểm gì nổi bật? Tác giả đã dựng chân dung của thế hệ mình với thái độ như thế nào?
II. LÀM VĂN
Câu 1.
Theo những điều được gợi lên từ nội dung văn bản phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày nhận thức của anh/ chị về trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay trước đất nước, dân tộc.
Câu 2.
Trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu - Ngữ văn 12, tập hai, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2017), hai nhân vật Phùng và Đẩu từng có lúc thốt lên: “Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được!”.
Qua phân tích tình huống dẫn đến cảm giác ngạc nhiên, bối rối chứa đựng trong lời nói ấy của các nhân vật, anh/ chị hãy làm sáng tỏ nội dung và ý nghĩa thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm.
---- HẾT ----
ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 3
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
- Thể thơ tự do.
- Căn cứ để xác định: số chữ trong các câu không đều nhau; cách ngắt dòng phóng túng; vần gieo không theo mô hình cố định, thậm chí có chỗ bỏ qua vần…
Câu 2:
- Phương thức biểu đạt chính của văn bản: biểu cảm (hoặc trữ tình) và tự sự.
- Các biện pháp tu từ nổi bật: ẩn dụ, so sánh.
Câu 3:
- Đối tượng được chỉ định bằng đại từ “chúng tôi”: những người lính trẻ thời chống Mỹ cứu nước.
- Một số cụm từ khác cùng chỉ về đối tượng: “những thằng lính trẻ măng”, “thế hệ chúng tôi”, “một thế hệ mỗi ngày đều đụng trận”, “một thế hệ thức nhiều hơn ngủ”.
Lưu ý: Vế thứ nhất của câu hỏi giúp xác định mức độ hiểu biết của thí sinh về tác giả và bối cảnh được miêu tả trong văn bản. Vế thứ hai của câu hỏi kiểm tra một kỹ năng đọc thơ mang tính đặc thù: nhận ra sự lặp lại với một số biến hóa của những từ/ hình ảnh then chốt, từ đó, xác định được hình tượng trung tâm và thông điệp chính của văn bản.
Câu 4:
- “Thế hệ chúng tôi” được khắc họa với những đặc điểm nổi bật: cởi mở, tinh nghịch, trẻ trung (không có gì phải che giấu nữa, tinh nghịch ló đầu qua cửa sổ, chen bám ở bậc toa như chồi như nụ); dám gánh vác trách nhiệm trước đất nước (hiệu còi ấy là một lời tuyên bố); dày dạn, kiên trì trước những thử thách khốc liệt (mỗi ngày đều đụng trận, vác cối nặng, thức nhiều hơn ngủ, xoay trần đào công sự…); đầy tinh thần sáng tạo trong hành trình cuộc sống (xoay trần trong ý nghĩ, đi… bằng rất nhiều lối mới…).
- Thái độ của tác giả khi dựng chân dung thế hệ mình: tự tin, yêu quý, tự hào, không hề có một chút mặc cảm.
Lưu ý: Thí sinh không nhất thiết phải dùng đúng các từ định danh đặc điểm đối tượng miêu tả/ khắc họa và các từ khái quát về thái độ của nhà thơ giống như trong đáp án. Điều quan trọng là nhận ra được nội dung biểu đạt và sắc thái ý nghĩa riêng của những cụm từ/ hình ảnh nổi bật có trong văn bản được chọn in nghiêng ở trên.
II. LÀM VĂN
Câu 1:
1. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:
- Trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay trước đất nước, dân tộc.
2. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm:
- Thế hệ trẻ, với đặc điểm trẻ trung, cởi mở của mình, luôn là nét tươi sáng, tích cực của bức tranh cuộc sống.
- Nói tới thế hệ trẻ là nói tới những hành trình đầy niềm hưng phấn, với tinh thần trách nhiệm rất cao.
- Thế hệ trẻ cần dấn bước vào đời với quyết tâm lớn, với những hành động quyết liệt, vì mục đích đưa đất nước bước lên tầm cao mới, khẳng định được tư thế tồn tại đường hoàng của mình trước thế giới, nhân loại.
- Thế hệ trẻ phải biết không ngừng khám phá, sáng tạo, “đi con đường người trước đã đi/ bằng rất nhiều lối mới”.
Lưu ý: Đây chỉ là một đoạn văn ngắn, không đòi hỏi quá khắt khe về bố cục, về hệ thống “ý”. Có thể dựa vào/ phỏng theo mạch cảm xúc/ suy nghĩ của tác giả văn bản (trong phần Đọc hiểu) để triển khai mạch viết riêng của mình (như gợi ý ở trên). Thí sinh có thể hoàn thành đoạn văn theo kiểu lần lượt trả lời (ngắn) các câu hỏi: Tại sao phải có trách nhiệm đối với đất nước, dân tộc? Trách nhiệm cụ thể của thế hệ trẻ hôm nay là gì? Thế hệ trẻ chúng ta đã làm gì, sẽ phải làm gì để thể hiện tinh thần trách nhiệm đó?
3. Chính tả, dùng từ, đặt câu: đảm bảo chuẩn mực.
Câu 2:
1. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: có đủ mở bài, thân bài, kết luận; nội dung phần nào phải phù hợp với tính chất quy ước chung của phần ấy.
2. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:
- Tình huống dẫn tới lời thốt lên của hai nhân vật: “Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được!”.
- Nội dung và ý nghĩa thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm.
---(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 3 vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy)---
Trên đây là một phần trích đoạn nội dung Bộ 3 đề thi thử THPT QG môn Ngữ văn năm 2021 Trường THPT Nguyễn Trung Trực. Để xem thêm nhiều tài liệu tham khảo hữu ích khác các em chọn chức năng xem online hoặc đăng nhập vào trang Hoc247.net để tải tài liệu về máy tính.
Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các em học sinh ôn tập tốt và đạt thành tích cao trong học tập.
Chúc các em học tập tốt !
Tài liệu liên quan
Tư liệu nổi bật tuần
-
Đề thi minh họa môn Hóa học tốt nghiệp THPT năm 2025
22/10/20242483 -
Đề thi minh họa môn Tin học tốt nghiệp THPT năm 2025
22/10/2024910 -
Đề thi minh họa môn Toán tốt nghiệp THPT năm 2025
22/10/20241812 - Xem thêm


