Xin gửi đến các em học sinh lớp 12 tài liệu Bộ 3 đề thi thử THPT QG môn Ngữ văn năm 2021 trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được Học247 sưu tầm và chọn lọc dưới đây, tài liệu được biên soạn nhằm giúp các em củng cố kiến thức môn Ngữ văn để chuẩn bị tốt nhất cho kì thi sắp tới.
|
TRƯỜNG THPT NGUYỄN BỈNH KHIÊM |
ĐỀ THI THỬ THPT QG MÔN: NGỮ VĂN NĂM HỌC: 2021 (Thời gian làm bài: 120 phút) |
ĐỀ SỐ 1
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
Tuổi trẻ là đặc ân vô giá của tạo hóa ban cho bạn. Vô nghĩa của đời người là để tuổi xuân trôi qua trong vô vọng. Những người thành công là những người dám vượt lên các yêu cầu công việc. Bạn sẽ tìm ra con đường để đi hoặc sẽ tạo ra con đường mới mẻ. Ai sẽ dám đi trên hoang vu chưa có dấu chân người…
Người ta bảo, thời gian là vàng bạc, nhưng sử dụng đúng thời gian của tuổi trẻ là bảo bối của thành công. Tài năng thiên bẩm chỉ là điểm khởi đầu, thành công của cuộc đời là mồ hôi và nước mắt. Nếu chỉ chăm chăm vào tài năng thiên bẩm thì chẳng khác nào chim trời chỉ vỗ cánh mà chẳng bao giờ bay được lên cao.
“Mỗi ngày trôi qua rất nhanh. Bạn đã dành thời gian cho những việc gì? Cho bạn bè, cho người yêu, cho đồng loại và cho công việc, và có bao giờ bạn rùng mình vì đã để thời gian trôi qua không lưu lại dấu tích gì không? Và có bao sự kiện đi qua đã làm bạn chùng lòng xuống, nguyện sống tốt hơn, nguyện chia sẻ nhiều hơn; và có bao nhiêu sự kiện xảy ra, khiến bạn hổ thẹn vì sức vóc trai tráng mà mà chẳng làm thêm một việc có ích cho đời?
(Theo Hải Bình, Thông điệp bất ngờ của thầy Hiệu trưởng trong ngày thành lập Đoàn, www.giaoducthoidai.vn)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn trích?
Câu 2. Theo tác giả, điều gì khiến đời người trở nên vô nghĩa?
Câu 3. Anh/chị hiểu thế nào về ý kiến: “Nếu chỉ chăm chăm vào tài năng thiên bẩm thì chẳng khác nào chim trời chỉ vỗ cánh mà chẳng bao giờ bay được lên cao.”?
Câu 4. Anh/Chị có đồng tình với ý kiến “Tài năng thiên bẩm chỉ là điểm khởi đầu, thành công của cuộc đời là mồ hôi và nước mắt” không? Vì sao?
II. LÀM VĂN
Câu 1 (2.0 điểm)
Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về điều bản thân cần làm để tuổi trẻ có ý nghĩa.
Câu 2 (5.0 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau trong đoạn trích Đất nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước
Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân
Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái
Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân
Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại.
(Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2009, tr. 121)
---- HẾT ----
ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 1
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích: Nghị luận.
Câu 2. Điều khiến đời người trở nên vô nghĩa: để tuổi xuân trôi qua trong vô vọng.
Câu 3. Nếu chỉ dựa vào tài năng vốn có mà không chăm chỉ rèn luyện, không nỗ lực cố gắng thì sẽ không có được thành công lớn.
Câu 4. Nêu rõ đồng tình hoặc không đồng tình
Lí giải hợp lí và thuyết phục. Gợi ý:
- Đồng tình: Tài năng chỉ là điều kiện cần, còn sự quyết định thành công của mỗi người là công sức, sự nỗ lực bền bỉ, sự kiên nhẫn, sự chịu đựng và ý chí vượt qua khó khăn…
- Không đồng tình: Tài năng thiên bẩm là yếu tố quyết định thành công của mỗi người, còn những yếu tố khác chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ để con người đạt được thành công…
II. LÀM VĂN
Câu 1.
Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về những điều bản thân cần làm để tuổi trẻ có ý nghĩa.
a. Đảm bảo yêu cầu hình thức đoạn văn
Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng- phân- hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận
Những điều bản thân cần làm để tuổi trẻ có ý nghĩa
c. Triển khai vấn đề nghị luận
Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng cần làm rõ những điều bản thân cần làm để tuổi trẻ có ý nghĩa. Có thể theo hướng sau:
- Giải thích:
+ Tuổi trẻ là giai đoạn thanh xuân, là quãng đời đẹp đẽ, có ý nghĩa nhất của đời người….
- Tuổi trẻ cần làm gì để sống có ý nghĩa?
+ Tích cực học tập, tích lũy kiến thức, rèn luyện kĩ năng.
+ Trau dồi phẩm chất đạo đức, nhân cách.
+ Sống có ước mơ, lí tưởng, dám nghĩ, dám làm.
+ Tích cực tham gia hoạt động xã hội, hoạt động thiện nguyện…
+ Dành thời gian quan tâm đến gia đình, đến những người thân yêu...
- Phê phán những người sống uổng phí tuổi trẻ và rút ra bài học cho bản thân.
d. Chính tả, dùng từ, đặt câu
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt
e. Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận
Câu 2. Cảm nhận đoạn thơ trong bài Đất Nước
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận
Có đủ mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề. Thân bài triển khai được vấn đề. Kết bài kết luận được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận
Cảm nhận được nội dung (Khẳng định đất nước của nhân dân vì chính nhân dân đã làm ra đất nước) và nghệ thuật của đoạn thơ.
c. Triển khai vấn đề nghị luận
Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng cảm nhận được nội dung (Khẳng định đất nước của nhân dân vì chính nhân dân đã làm ra đất nước) và nghệ thuật của đoạn thơ. Có thể theo hướng sau:
Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, dẫn dắt vấn đề nghị luận
- Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong thời kì chống Mĩ cứu nước; thơ ông giàu chất trí tuệ, suy tư sâu lắng, cảm xúc nồng nàn.
- Đất Nước thuộc phần đầu chương V trong trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, được sáng tác năm 1971 ở chiến khu Trị - Thiên.
- Dẫn dắt đoạn trích
* Cảm nhận đoạn thơ
- Nhân dân là những con người vô danh, thầm lặng. Cuộc đời của họ rất giản dị nhưng có những đóng góp lớn lao đối với đất nước. (Họ đã sống và chết/Giản dị và bình tâm/Không ai nhớ mặt đặt tên/Nhưng họ đã làm ra Đất Nước)
- Nhân dân là những người đã sáng tạo, gìn giữ và lưu truyền những giá trị vật chất, văn hóa tinh thần cho đời sau. Đó là nền nông nghiệp lúa nước, là cách giữ lữa độc đáo, là tiếng nói thiêng liêng của dân tộc. (Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng; chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi; truyền giọng điệu mình cho con tập nói).
- Nhân dân là những người đã thầm lặng xây dựng, mở mang, khai phá, kiến tạo nên đất nước qua những chuyến khai sông lấn biển đầy gian khó. Nhân dân là người đã vất vả lao động, hi sinh, tạo ra thành quả cho con cháu muôn đời kế tục. (Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân/ Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái )
- Nhân dân là những người không tiếc máu xương, sẵn sàng đứng lên bảo vệ đất nước trước những biến động lịch sử và hiểm họa xâm lăng. Nhân dân đã viết nên những trang sử hào hùng, tạo nên truyền thống quật cường của dân tộc. (Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm/ Có nội thù thì vùng lên đánh bại).
---(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 1 vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy)---
ĐỀ SỐ 2
PHẦN I: ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu
“Con sẽ không đợi một ngày kia
khi mẹ mất đi mới giật mình khóc lóc
Những dòng sông trôi đi có trở lại bao giờ?
Con hốt hoảng trước thời gian khắc nghiệt
Chạy điên cuồng qua tuổi mẹ già nua
mỗi ngày qua con lại thấy bơ vơ
ai níu nổi thời gian?
ai níu nổi?
Con mỗi ngày một lớn lên
Mẹ mỗi ngày thêm già cỗi
Cuộc hành trình thầm lặng phía hoàng hôn”
(Trích “Mẹ”, Đỗ Trung Quân)
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn thơ trên? (0.25 điểm)
Câu 2: Nội dung đoạn thơ nói gì? (0.75 điểm)
Câu 3: Xác định biện pháp nghệ thuật được sử dụng và tác dụng của nó trong câu thơ: Những dòng sông trôi đi có trở lại bao giờ? (1.0 điểm)
Câu 4:
Con mỗi ngày một lớn lên
Mẹ mỗi ngày thêm già cỗi
Cuộc hành trình thầm lặng phía hoàng hôn”
Anh chi hiểu như thế nào về những câu thơ trên (1.0 điểm)
PHẦN II: LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1: (2,0 điểm)
Hãy viết 1 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về sự khắc nghiệt của thời gian.
Câu 2: (5,0 điểm)
Cảm nhận của anh/ chị về quá trình nhận thức của nhân vật Phùng, trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu), khi người nghệ sĩ nhiếp ảnhấy phát hiện ra cảnh bạo hành của gia đình hàng chài sống trên chiếc thuyền lưới vó.
---- HẾT ----
ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 2
PHẦN I: ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)
Câu 1: (0.25 điểm)
Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích đó là: biểu cảm (0.25 điểm)
Câu 2: (0.75 điểm)
Đoạn thơ thể hiện nỗi lo sợ,hốt hoảng của người con khi nhận ra sự khắc nghiệt của thời gian (0,5 điểm) và quãng đời ngắn ngủi còn lại của mẹ (0,25 điểm)
Câu 3: (1.0 điểm)
- Biện pháp nghệ thuật trong câu thơ: câu hỏi tu từ (0,5 điểm)
- Tác dụng: tăng sức biểu cảm, gây sự chú ý và nhấn mạnh qui luật của tự nhiên: những dòng sông trôi đi, giống như thời gian, không bao giờ quay trở lại(0,5 điểm)
Câu 4: (1.0 điểm) Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần nêu được các ý cơ bản;
- Thời gian của con và mẹ là 2 hành trình trái ngược nhau: Con lớn lên, mẹ già cỗi (0,5 điểm)
- Cuộc hành trình của mẹ là đi vào bóng đêm, là đang dần rời xa sự sống (0,5 điểm)
PHẦN II:LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1: (2,0 điểm)
* Hình thức:
- Viết đoạn văn khoảng 200 chữ
- Biết vận dụng các thao tác nghị luận để nêu và giải quyết vấn đề
- Diễn đạt rõ ràng, gãy gọn. Lập luận chặt chẽ, có sức thuyết phục
* Nội dung
- Hiểu rõ:
- Thời gian là dòng chảy xuôi chiều, không bao giờ quay trở lại, không chờ đợi bất kì ai
- Thời gian là thứ tài sản ai cũng có quyền sở hữu nhưng không phải ai cũng biếtsử dụng một cách hợp lí, hữu ích.
- Phải trân quý và tận dụng khoảng thời gian đang có để làm được những việc có ích, để không phải hối tiếc
- Liên hệ thực tế bản thân.
Câu 2: (5,0 điểm)
a/ Yêu cầu về kỹ năng:
HS biết cách làm bài văn nghị luận văn học về cảm nhận nhân vật, kết cấu bài viết chặt chẽ, biết dùng từ, đặt câu, diễn đạt lưu loát, mạch lạc, bố cục cân đối, trình bày bài viết rõ ràng, tôn trọng người đọc.
b/ Yêu cầu về kiến thức:
Trên cơ sở hiểu biết về tác giả Nguyễn Minh Châu và tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”, HS biết cách chọn lọc, sắp xếp và phân tích những chi tiết để làm rõ được quá trình nhận thức của nhân vật Phùng khi phát hiện ra cảnh bạo hành của gia đình hang chài. Bài viết có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, song cần nêu bật được những ý sau:
* Giới thiệu khái quát (1.0điểm)
- Tác giả Nguyễn Minh Châu
- Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”
- Vấn đề cần nghị luận
* Cảm nhận về quá trình nhận thức của nhân vật Phùng (3.0 điểm)
- Khái quát về nhân vật Phùng và tình huống xuất hiện của nhân vật
- Cảnh bạo hành của gia đình hàng chài mà Phùng nhìn thấy:
+ Người đàn ông đánh vợ dã man
+ Đứa con trai nhỏ đánh lại cha để bảo vệ mẹ
+ Người đàn ông giáng cho đứa con traihai cái tát
- Tâm trạng Phùng khi chứng kiến cảnh bạo hành: kinh ngạc và bất bình
- Phùng nhận thức rằng
+ Đằng sau vẻ đẹp toàn bích của bức tranh ngoại cảnh là thực tế cuộc sống nhiều ngang trái và đau khổ của con người.
+ Trách nhiệm của người nghệ sĩ là phải đi sâu vào khám phá cuộc sống của con người ở góc độ thật gần.
* Đánh giá(1.0 điểm)
+ Quá trình nhận thức của Phùng được xây dựng chung quanh tình huống có ý nghĩa khám phá.
---(Để xem đầy đủ đáp án những câu còn lại vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy)---
ĐỀ SỐ 3
PHẦN I: ĐỌC HIỂU (3 điểm)
Đọc đoạn trích dưới đây:
Trung thực rất tinh tế và khó phân biệt qua lời nói hay hành động. Đôi khi đức tính trung thực bị xem là đã “lỗi thời”, chỉ còn trên sách vở, không thực tế hoặc chẳng hay ho gì để ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, trung thực là yếu tố căn bản để có sự bình an trong tâm trí, là nền tảng cho sự tự do nội tâm và mối quan hệ lành mạnh. Trước đây, tôi từng cho rằng bình an là giá trị quan trọng nhất, nhưng giờ tôi thấy trung thực mới chính là nền tảng của tất cả giá trị khác.
Gần đây tôi có gặp một phụ nữ trẻ, xinh đẹp, có ba người con rất đáng yêu. Giỏi giang, thông minh và giàu có nhưng chị tâm sự chị không hài lòng chút nào về bản thân. Chị luôn so sánh mình với hai người chị dâu, là những nữ doanh nhân cực kì sắc sảo và thành đạt. Chị đánh giá mình chỉ là một người phụ nữ vô tích sự, chẳng làm được trò trống gì, đã thế lại còn thất nghiệp. Thực ra, chị đã không trung thực với chính mình khi chỉ nhìn vào những điểm mạnh của những người chị dâu, và đánh giá họ hoàn toàn dựa trên những cái mình không có. Trung thực trong lòng giúp ta đánh giá lại mình một cách chính xác và thực tế: biết và đánh giá cao ưu điểm của mình bên cạnh việc nhận ra nhược điểm của bản thân.
(Trích Lăng kính tâm hồn- Trish Summerfield, NXB Tổng hợp tp Hồ Chí Mimh)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên.
Câu 2. Trong văn bản, tác giả đã chỉ ra sai lầm nào của người phụ nữ khi nhận thức về bản thân?
Câu 3. Anh chị hiểu như thế nào về ý kiến: Trung thực là yếu tố căn bản để có được sự bình an trong tâm trí, là nền tảng cho sự tự do nội tâm và mối quan hệ lành mạnh?
Câu 4. Anh /chị có đống tình với quan niệm: Thiếu sự trung thực với chính mình sẽ đồng nghĩa với việc nhận thức sai về bản thân không? Vì sao?
PHẦN II: LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Từ ý nghĩa của đoạn trích phần Đọc hiểu, anh (chị) hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về giá trị của lòng trung thực trong mối quan hệ với chính mình và với người khác.
Câu 2 (5,0 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về diễn biến bà cụ Tứ kể từ khi Tràng nhặt được vợ trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân.
---- HẾT ----
ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 3
PHẦN I: ĐỌC HIỂU
Câu 1: Phương thức biếu dạt chính: nghị luận
Câu 2: Sai lầm của người phụ nữ: không trung thực với chính mình chỉ toàn nhìn vào điểm mạnh của người chị dâu, và đánh giá họ dựa trên những cái mình không có.
Câu 3: Thông hiểu
* Yêu cầu: HS viết thành đoạn văn, trình bày được các ý sau:
- Trung thực là yếu tố quan trọng để mỗi người nhận thức đúng về mình.
- Câu nói đề cao tầm quan trọng sự trung thực với chính mình.
Câu 4: Vận dụng
* Yêu cầu: Viết đoạn văn ngắn
* Nội dung: đảm bảo các ý cơ bản sau:
- Đồng tình/ không đồng tình: HS có thể trình bày ý kiến cá nhân, sẽ nghiêng về đồng tình.
- Lí giải vì: Không tự tin thừa nhận ưu điểm, không dám đối diện với khuyết điểm của bản thân
=> Không đánh giá đúng bản thân mình
- Liên hệ: (những năm gần đây, trong đáp án thường cho điểm phần này)
PHẦN II: LÀM VĂN
Câu 1 (2,0 điểm)
Yêu cầu: Đây là dạng đặc biệt của NLXH
a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn: 200 chữ
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: giá trị của lòng trung thực trong mối quan hệ với chính mình và với người khác.
c. Triển khai hợp lí nội dung đoạn văn:
* Giải thích khái niệm: Trung thực là một giá trị sống và là phẩm chất cần thiết của con người. Trung thực là luôn nói đúng sự thật, không có mâu thuẫn trong suy nghĩ, lời nói và hành động tạo nên sự hài hòa thống nhất giữa biểu hiện bên ngoài và suy nghĩ bên trong.
* Bàn luận:
- Trung thực với bản thân:
+ Giúp con người thấy lòng thanh thản
+ Tạo nên những mối quan hệ tốt đẹp
+ Nhận thức đúng về bản thân. Không đánh giá quá cao hoặc quá thấp về giá trị của bản thân.
- Trung thực với người khác:
+ Đánh giá đúng về người khác
+ Giúp họ sống tốt hơn, phát huy những thế mạnh, giúp họ nhận thức, sữa chữa khuyết điểm, hoàn thiện mình.
+ Có thể lấy dẫn chứng: những bệnh nhân mắc covid19 không trung thực trong việc khai báo…
* Bài học nhận thức và liên hệ:
- Trung thực giúp xây dựng xã hội công bằng, phát triển và nhân văn.
- Liên hệ bản thân: luôn sống trung thực…
Câu 2 (5,0 điểm)
a. Yêu cầu về hình thức:
- Biết kết hợp kiến thức và kỹ năng làm nghị luận xã hội để tạo lập văn bản
- Bài viết có bố cục đầy đủ, rõ ràng; diễn đạt trôi chảy, có cảm xúc; đảm bảo tính liên kết; không mặc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp
b. Yêu cầu về nội dung:
* Khái quát tác giả, tác phẩm:
- Kim Lân là một trong những cây bút hàng đầu của nền văn học Việt Nam hiện đại chuyên viết truyện ngắn. Các sáng tác của ông tuy không nhiều nhưng các tác phẩm của ông đều có sức tỏa sáng và minh chứng rõ cho quan điểm “quý hồ tinh bất quý hồ đa” (viết ít còn hơn viết nhiều).
- Vì thế nhà văn Nguyên Hồng nhận xét về Kim Lân: “Kim Lân là nhà văn một lòng đi về với đất và người, với những thuần hậu và nguyên thủy của cuộc sống nông thôn”.
- Hoàn cảnh sáng tác: Truyện ngắn “Vợ nhặt” được sáng tác dựa trên tiền thân là cuốn tiểu thuyết “Xóm ngụ cư”. Đây là cuốn tiểu thuyết được nhà văn bắt tay vào viết ngay sau ngày CMT8 thành công. Ông viết được V chương sau đó bị bỏ dở vì toàn quốc kháng chiến chống Pháp 1954 khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc, Kim Lân quay trở lại cuốn tiểu thuyết này nhưng do bản thảo bị thất lạc, tác giả dựa vào một phần cốt truyện cũ và viết nên truyện ngắn “Nhặt vợ”. Đến năm 1962 khi in lại trong tập “Con chó xấu xí” tác giả đổi tên thành “Vợ nhặt”.
* Nêu ý nghĩa nhan đề và tình huống truyện:
- Ý nghĩa nhan đề
+ “Vợ” là chuyện thiêng liêng, hệ trọng
+ “nhặt” gợi cái tầm thường, rẻ rúm
-> Nhan đề đã:
+ Tạo ấn tượng cho người đọc về nạn đói khủng khiếp
+ Tố cáo tội ác của thực dân, phát xít
+ Niềm tin của nhà văn vào phẩm chất những người dân lao động lúc bấy giờ.
- Tình huống truyện: Tràng nhặt được vợ giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói:
+ Không một buổi sáng nào người đi chợ hay đi làm đồng không thấy ba bốn cái thây nằm còng queo bên lề đường, không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người…
+ Ranh giới giữa sự sống và cái chết mong manh như sợi tóc
+ Đến cái thân mình còn chả nuôi nổi
=> Làm thay đổi những con người nơi xóm ngụ cư, trong đó có bà cụ Tứ- mẹ Tràng
* Khái quát về bà cụ Tứ
- Xuất hiện giữa thiện truyện, đặt bà trong tình huống trớ trêu
- Ấn tượng của người đọc:
+ Dáng đi: lọng khọng
+ Vừa đi vừa lẩm bẩm
+ Tiếng ho húng hắng từ xa
=> Kim Lân đã dựng lên chân dung của một người mẹ nông dân mà ở đó có in hằn dấu ấn của thời gian tuổi tác. Ở nhân vật nỗi lo cơm áo luôn đè nặng. Bà là tiêu biểu và hiện thân cho con người trong những năm đói.
* Diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ:
a) Chặng 1: Sự ngạc nhiên bất ngờ hết sức
- Lý do: Đặt trong bối cảnh năm đói; bà hiểu rõ về Tràng
- Biểu hiện
+ 4 câu hỏi liên tiếp được đặt ra trong đầu bà:
+ Chi tiết "mắt nhoèn" -> phải chăng chính cái đói đã đánh cắp mất sự nhạy cảm tinh tế vốn có của người mẹ nghèo khổ này
- Kim Lân đã miêu tả một cách rất chân thực diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ. Ban đầu là sự ngạc nhiên bất ngờ hết sức, sự ngạc nhiên bất giờ được bà cảm nhận ngay từ lúc Tràng lật đật chào bà. Ta có thể hiểu được bà cụ tại sao lại ngạc nhiên, đặt vào bối cảnh những năm đói khi mà cái chết bủa vây khắp mọi nơi khi mà người sống cũng dật dờ lặng lẽ như những bóng ma, cái thời điểm mà ranh giới giữa sự sống và cái chết mong manh chẳng thể phân biệt nổi, đến thân mình còn chưa biết lo được họ huống chi còn đèo bòng. Trong những năm đói chẳng ai còn dám nghĩ đến việc dựng vợ gả chồng, hạnh phúc dường như là giấc mơ xa xỉ nên bà cụ ngạc nhiên cũng là dễ hiểu. Hơn nữa bà cụ Tứ ngạc nhiên còn là bởi bà là người hiểu con trai mình hơn ai hết. Tràng vốn là người đàn ông xấu xí, dở tính lại còn là dân ngụ cư nghèo khổ, Tràng khó có thể lấy được vợ. Vì vậy khi thấy người đàn bà xuất hiện trong nhà đứng ngay đầu giường anh, bà không thể giấu nổi tâm trạng ngạc nhiên.
- Kim Lân đã miêu tả t/c biểu hiện tâm trạng ngạc nhiên của bà lão. Một loạt câu hỏi liên tiếp được đưa ra: "Sao lại chào mình bằng u?" Ai thế nhỉ?" Vậy là những câu hỏi này chứng tỏ bà lão đang rất ngạc nhiên không hiểu người đàn bà kia là ai, Kim Lân đã phát hiện được chi tiết tinh tế nhưng cũng thật đặc sắc cũng rất đỗi đời thường để đặc tả tâm trạng của bà lúc này "Bà lão hấp háy cặp mắt cho đỡ nhoèn vì tự dưng bà thấy mắt mình nhoèn ra thì phải". Chữ "nhoèn" trong dòng văn hết sức đặc sắc nó miêu tả được tâm trạng quá đỗi ngạc nhiên của bà, dường như bà lão không dám tin vào mắt mình là con trai mình có vợ. Trái tim những người mẹ vốn rất nhạy cảm với chuyện riêng tư của con cái, nhất là chuyện dựng vợ gả chồng. Vậy mà tại sao nhà văn lại để bà cụ phải ngạc nhiên quá lâu đến như thế, phải chăng chính cái đói đã đánh cắp mất sự nhạy cảm tinh tế vốn có của người mẹ nghèo khổ này.
b) Chặng 2: Ai oán, xót thương và lo lắng
- Hành động "cúi đầu" nín lặng -> có cơn bão tâm trạng.
- Xót thương cho cuộc đời đau khổ kéo dài của mình, bà nghĩ ông lão và đứa con gái út.
- Chi tiết dòng nước mắt "rỉ" xuống 2 dòng nước mắt
- Tâm trạng của bà cụ Tứ chuyển từ nhạc nhiên đến ai oán xót thương và lo lắng. Bà lão ai oán, xót thương cho số kiếp của chính mình và các con. Khi bà lão hiểu ra cớ sự thì bà chìm sâu vào niềm ai oán, thương xót tất cả được thể hiện rõ qua hành động bà lão cúi đầu nín lặng. Có lẽ đằng sau hành động cúi đầu là cả một cơn bão tâm trạng với biết bao niêm cay đắng tủi cực đang ập đến với bà. Bà xót thương cho cuộc đời cực khổ dài dằng dặc củamình, bà cứ bị cái quá khúe nghèo khổ đeo bám. Trong dòng suy nghĩ miên man đó, bà nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út mà xót thương. Bà xót thương khi bổn phận bà làm mẹ mà chưa làm tròn. Người ta dựng vợ gả chồng cho con còn Tràng phải đi nhặt vợ. Nghĩ đến cảnh đó mà bà thấy xót thương đau đơn, tâm trạng đó cứ đè nặng lên bà. Nhà văn đã miêu tả thật ấn tượng chi tiết dòng nước mắt của bà cụ. "Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà lão rỉ xuống hai dòng nước mắt" từ "rỉ" trong câu văn đã thể hiện một cách hết sức chân thực niềm ai oán, xót thương của bà. Đó là dòng nước mắt của bao nỗi cay đắng tủi hờn, dòng nước mắt ấy dã héo quắt lại đã cạn khô cùng với cuộc sống đói khổ, lam lũ. Giờ đây bà đang cố chắt lọc ra đề xót thương, ai oán.
- Bà cụ Tứ lo lắng cho các con, bà lo rằng không biết chúng có nuôi nổi nhau sống được qua cái kỳ này không. Đó là tâm trạng âu lo vô hình luôn đeo bám lấy bà, bà lo không biết cuộc đời của chúng có khá hơn bố mẹ trước kia không. Như vậy tấm lòng của người mẹ nghèo này không bao giờ hết âu lo. Qua nỗi lo ấy nhà văn đã khắc họ được vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật. Một người mẹ nghèo khổ nhưng giàu đứng hi sinh, giàu tình yêu thương con. Ở bà thấp thoáng bóng dáng người phụ nữ Việt Nam mọi thời đại.
c) Chặng 3: Trào dâng tình yêu thương (với cô vợ nhặt)
- Không vì nghèo mà con thường, trái lại còn biết ơn "người ... vợ nhặt"
- Câu nói "U cũng mừng lòng" -> gỡ bỏ cho người vợ nhặt thân phận.
- Tâm trạng của bà cụ ngập tràn trong tình yêu thương từ lúc Tràng dẫn cô vợ nhặt về, bà cụ Tứ cứ chìm sâu vào ai oán, thương xót nhưng không vì thế mà bà sinh ra tàn nhẫn, độc ác hay coi thường người vợ nhặt mà trái lại bà trào dâng tình yêu thương. Khi nhìn thấy người vợ nhặt cúi đầu xuống tay vân về tà áo rách bợt, lòng bà đầy thương xót, thậm chí trong ý nghĩ của bà, bà còn cảm thấy hàm ơn với cô vợ này: "Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này thì người ta mới lấy đến con mình, thì con mình mới có vợ được". Như vậy bà cụ Tứ đã tự đặt mình vào hoàn cảnh trớ trêu của cô con dâu để mà cảm thông chia sẻ thật hiếm có người mẹ chồng nào lại có được cách cư xử đầy bao dung như bà.
---(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 3 vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy)---
Trên đây là một phần trích đoạn nội dung Bộ 3 đề thi thử THPT QG môn Ngữ văn năm 2021 Trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm. Để xem thêm nhiều tài liệu tham khảo hữu ích khác các em chọn chức năng xem online hoặc đăng nhập vào trang Hoc247.net để tải tài liệu về máy tính.
Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các em học sinh ôn tập tốt và đạt thành tích cao trong học tập.
Chúc các em học tập tốt !
Tài liệu liên quan
Tư liệu nổi bật tuần
-
Đề thi minh họa môn Hóa học tốt nghiệp THPT năm 2025
22/10/20242483 -
Đề thi minh họa môn Tin học tốt nghiệp THPT năm 2025
22/10/2024909 -
Đề thi minh họa môn Toán tốt nghiệp THPT năm 2025
22/10/20241812 - Xem thêm


