Xin gửi đến các em học sinh lớp 12 tài liệu Bộ 3 đề thi thử THPT QG môn Ngữ văn năm 2021 trường THPT Lương Văn Chánh đã được Học247 sưu tầm và chọn lọc dưới đây, tài liệu được biên soạn nhằm giúp các em củng cố kiến thức môn Ngữ văn để chuẩn bị tốt nhất cho kì thi sắp tới.
|
TRƯỜNG THPT LƯƠNG VĂN CHÁNH |
ĐỀ THI THỬ THPT QG MÔN: NGỮ VĂN NĂM HỌC: 2021 (Thời gian làm bài: 120 phút) |
ĐỀ SỐ 1
PHẦN I: Đọc hiểu (3 điểm)
Câu 1: Đọc kỹ đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi:
Ai kia ở chốn phồn hoa đô thị ồn ào, bụi bặm mong có dịp về nông thôn để được hít thở không khí trong lành, đắm mình vào dòng sông quê hương "soi tóc những hàng tre", thì thật sự bị thất vọng. Sự "trong lành" ấy đang bị hủy hoại nghiêm trọng bởi chất thải công nghiệp, chất thải vô tội vạ của làng nghề, chất thải từ mạnh ai nấy được trong nuôi trồng thủy sản. Sông Cầu tiếp nhận thêm ít nhất 180000 tấn phân hóa học, 1500 tấn thuốc trừ sâu! Lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy bị nước thải đô thị xối thẳng trực tiếp làm đen ngòm, nước sông đang bốc mùi! Sông Thị Vải trong lưu vực sông Đồng Nai đã có đoạn bị chết kéo dài sau khu vực hợp lưu suối Cả - Đồng Nai đến khu công nghiệp Mĩ Xuân,... Rồi câu chuyện về "làng ung thư", thảm họa đau thương ngày càng tăng của một cộng đồng do tác động trực tiếp của chất thải công nghiệp, nhưng cho đến nay vẫn chưa có kết luận thật rõ ràng: ai là thủ phạm của những cái chết đau thương, đó là một ví dụ quá đau xót. Phải xem đây là nỗi đau không chỉ của một làng, một địa phương, mà là nỗi đau chung của những ai có lương tri với đạo đức dân tộc "máu chảy ruột mềm, thương người như thể thương thân, một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ". Làm sao có thể dửng dưng, vô cảm khi trên màn hình, những cư dân ở cái "làng ung thư kia" hiện bị căn bệnh quái ác tấn công đang hiền lành và bất lực kêu cứu?
("Tương lai - Môi trường và phát triển", www.nguoidaibieu.com.vn)
1. Xác định nội dung chính của đoạn văn.
2. Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn văn bản.
3. Đoạn văn bản trên viết theo phong cách ngôn ngữ nào?
Câu 2: Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi:
Tiếng chim vách núi nhỏ dần
Rì rầm tiếng suối khi gần khi xa
Ngoài thềm rơi chiếc lá đa
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng
(Đêm Côn Sơn – Trần Đăng Khoa)
1. Xác định thể thơ của đoạn thơ trên.
2. Cảnh đêm Côn Sơn được tác giả miêu tả qua những chi tiết nào? Những chi tiết đó đem đến cho anh/chị cảm nhận gì về đêm Côn Sơn.
3. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ qua hai câu thơ
Ngoài thềm rơi cái lá đa
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng
PHẦN II: Làm văn (7 điểm)
Câu 3: Với những thành tựu vượt bậc mà nhân loại đã đạt được, có thể dễ dàng nhận định rằng con người là "tinh hoa của vũ trụ, động vật cao cấp nhất". Nhưng nếu nhìn vào cái cách mà con người ứng xử với tự nhiên chúng ta không khỏi giật mình tự hỏi, liệu con người có thông minh thực sự?
Anh/ chị hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày quan điểm của mình về vấn đề trên.
Câu 4: Phân tích diễn biến tâm lí của nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn "Vợ nhặt" của Kim Lân.
---- HẾT ----
ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 1
PHẦN I: Đọc hiểu (3 điểm)
Câu 1.
1. Nội dung (0,5)
Thực trạng ô nhiễm môi trường và tác hại khủng khiếp của nó đến đời sống con người
Phải chung tay bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe con người
2. Các phương thức biểu đạt: Nghị luận, thuyết minh, biểu cảm... (0,5)
3. Phong cách ngôn ngữ báo chí (0,5)
Câu 2.
1. Thể thơ lục bát (0,5)
2. Chi tiết: Tiếng chim nhỏ dần; rì rầm tiếng suối; ngoài thềm rơi cái lá đa; tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng...
=> Không gian bao la, tĩnh lặng trong sự huyền ảo, huyền bí của đêm Côn Sơn
=> Sự cảm nhận tinh tế (qua nhiều giác quan) của tác giả trước cảnh thiên nhiên thơ mộng mà hùng vĩ. (0,5)
3. Ẩn dụ (chuyển đổi cảm giác từ thính giác sang thị giác): Nghe tiếng lá đa rơi mà như nhìn thấy hình chiếc lá (rất mỏng)
- So sánh: Tiếng rơi "rất mỏng" với "rơi nghiêng"
- Tác dụng:
+ Sử dụng ngôn từ mới mẻ vừa giàu tính tạo hình vừa giàu giá trị biểu cảm.
+ Không gian tĩnh lặng tôn nghiêm được cảm nhận qua tâm hồn tinh tế sâu lắng của nhà thơ. (0,5)
PHẦN II: Làm văn (7 điểm)
Câu 3: Nghị luận xã hội
* Yêu cầu chung
- Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận xã hội của thí sinh; đòi hỏi thí sinh phải huy động những hiểu biết về đời sống xã hội, kĩ năng tạo lập văn bản và khả năng bày tỏ quan điểm riêng của mình để làm bài.
- Thí sinh có thể triển khai vấn đề theo nhiều cách khác nhau, nhưng phải có lí lẽ và căn cứ xác đáng; được tự do bày tỏ quan điểm của mình, nhưng phải có thái độ chân thành, nghiêm túc, phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội và luật pháp.
* Yêu cầu cụ thể
- Đảm bảo kết cấu: (0,5)
+ Xác định được vấn đề: Con người xứng đáng là tinh hoa của vũ trụ với những thành tựu đã đạt được nhưng liệu có thông minh thực sự khi nhìn vào cái cách mà con người ứng xử với tự nhiên? (0,5)
+ Chứng minh con người là tinh hoa của vũ trụ bằng những thành tựu về khoa học kỹ thuật, văn hóa, xã hội...(0,5)
+ Chứng minh thái độ ứng xử với tự nhiên của con người đã hủy hoại thiên nhiên, nhất là trong thế kỷ XX... (0,5)
+ Xác định nhiệm vụ bảo vệ tự nhiên của con người trong thế kỷ này...(1,0)
Câu 4: Nghị luận văn học
* Yêu cầu chung
- Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận văn học của thí sinh; đòi hỏi thí sinh phải huy động kiến thức về tác phẩm văn học, lí luận văn học, kĩ năng tạo lập văn bản và khả năng cảm nhận văn chương của mình để làm bài.
- Thí sinh có thể cảm nhận và kiến giải theo những cách khác nhau, nhưng phải có lí lẽ, có căn cứ xác đáng, không được thoát li văn bản tác phẩm.
* Yêu cầu cụ thể
1. Đảm bảo kết cấu (0,5)
2. Giới thiệu. (0,5)
- Tác giả Kim Lân.
- Truyện ngắn "Vợ nhặt".
- Nhân bà cụ Tứ và diễn biến tâm lí phức tạp của nhân vật.
3. Phân tích. (2,0)
- Hoàn cảnh nhân vật (0,5)
- Diễn biến tâm lí (1,5)
- Buổi chiều tối hôm trước: Ngạc nhiên -> Những cảm xúc phức tạp: lo, thương, buồn tủi, mừng, hi vọng
- Buổi sáng hôm sau: Lo buồn qua đi còn lại là niềm vui, hi vọng
- Cơ sở của sự thay đổi: Tình yêu con, tinh thần lạc quan
---(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 1 vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy)---
ĐỀ SỐ 2
I. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN (3.0 điểm)
1. Đọc đoạn sau và trả lời câu hỏi từ câu 1 đến câu 4.
Yêu Tổ quốc từ những giọt mồ hôi tảo tần. Mồ hôi rơi trên những cánh đồng cho lúa thêm hạt. Mồ hôi rơi trên những công trường cho những ngôi nhà thành hình, thành khối. Mồ hôi rơi trên những con đường nơi rẻo cao Tổ quốc của những thầy cô trong mùa nắng để nuôi ước mơ cho các em thơ. Mồ hôi rơi trên thao trường đầy nắng gió của những người lính để giữ mãi yên bình và màu xanh cho Tổ quốc...
(Nguồn http://vietbao.vn ngày 9-5-2014)
Câu 1. (0.25 điểm)
Thao tác lập luận chính được sử dụng trong văn bản trên là gì?
Câu 2. (0.5 điểm)
Xác định biện pháp tu từ chính được sử dụng trong văn bản trên và phân tích ngắn gọn tác dụng của biện pháp tu từ đó.
Câu 3. (0.25 điểm)
Những từ ngữ: cánh đồng, công trường gợi nghĩ đến đối tượng nào trong cuộc sống?
Câu 4. (0.25 điểm)
Hãy đặt cho văn bản trên một nhan đề thích hợp?
2. Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi từ câu 5 đến câu 8
Hãy sống như đời sống để biết yêu nguồn cội
Hãy sống như đồi núi vươn tới những tầm cao
Hãy sống như biển trào, như biển trào để thấy bờ bến rộng
Hãy sống như ước vọng để thấy đời mênh mông
Và sao không là gió, là mây để thấy trời bao la
Và sao không là phù sa rót mỡ màu cho hoa
Sao không là bài ca của tình yêu đôi lứa
Sao không là mặt trời gieo hạt nắng vô tư
Và sao không là bão, là giông, là ánh lửa đêm đông
Và sao không là hạt giống xanh đất mẹ bao dung
Sao không là đàn chim gọi bình minh thức giấc
Sao không là mặt trời gieo hạt nắng vô tư
(Lời bài hát Khát Vọng – Phạm Minh Tuấn)
Câu 5. (0.25 điểm)
Phương thức biểu đạt chủ yếu của văn bản trên là gì?
Câu 6. (0.25 điểm)
Xác định nội dung của văn bản trên.
Câu 7. (0.25 điểm)
Câu "Sao không là mặt trời gieo hạt nắng vô tư" trong lời bài hát định hướng cho mọi người lối sống như thế nào?
Câu 8. (1.0 điểm)
Viết một đoạn văn ngắn (từ 5 đến 7 câu) trình bày cảm nhận của anh/ chị về lời bài hát trong văn bản trên.
II. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Trong đoạn trích Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm có đoạn:
"...Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất Nước
Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn, to lớn
Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng
Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời..."
(Sách giáo khoa Ngữ Văn 12 - tập 1, trang 117, nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, năm 2011)
Phân tích đoạn thơ trên. Từ đó, anh/chị hãy trình bày suy nghĩ về trách nhiệm của bản thân đối với đất nước.
---- HẾT ----
ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 2
Phần I: Đọc hiểu (3.0 điểm)
1. Trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:
Câu 1. (0.25đ)
Thao tác lập luận chính được sử dụng trong văn bản trên là thao tác phân tích.
Câu 2. (0.5đ)
Biện pháp tu từ chính được sử dụng trong văn bản trên là điệp (lặp) cú pháp (0.25đ)
Biện pháp điệp (lặp) cú pháp có tác dụng nhấn mạnh những vất vả nhọc nhằn và sự hi sinh thầm lặng của người dân lao động.
Qua đó, bộc lộ sự trân trọng, tin yêu với những con người lao động và tình yêu Tổ quốc của nhà thơ. (0.25đ)
Câu 3. (0.25đ)
Những từ ngữ: cánh đồng, công trường gợi nghĩ đến người nông dân, công nhân trong cuộc sống.
Câu 4. (0.25đ)
Đặt nhan đề cho văn bản: Yêu Tổ quốc, những giọt mồ hôi thầm lặng, những hi sinh thầm lặng ....
Câu 5 .(0.25đ)
Phương thức biểu đạt chủ yếu của văn bản trên là biểu cảm.
Câu 6. (0.25đ)
Văn bản trên thể hiện khát vọng về cách sống có ích, sống tốt đẹp - khát vọng hóa thân để cống hiến và dựng xây cuộc đời.
Câu 7. (0.25đ)
Câu "Sao không là mặt trời gieo hạt nắng vô tư" trong lời bài hát định hướng cho mọi người lối sống có ích như mặt trời đối với vạn vật trên trái đất.
Câu 8. (0.75đ)
Học sinh viết đoạn văn trình bày được cảm nhận của mình về lời bài hát trong văn bản trên.
Phần II: Tự luận (7.0 điểm)
1. Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm nghị luận văn học để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
2. Yêu cầu cụ thể
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận (1.0 điểm)
- Điểm 1.0: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề hoặc liên hệ, mở rộng.
- Điểm 0.5: Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận, nhưng các phần chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu như trên; phần Thân bài chỉ có 1 đoạn văn.
- Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 1 đoạn văn.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (1,5 điểm)
- Điểm 1.5: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: những lời nhắn nhủ tâm tình của tác giả về sự gắn bó và trách nhiệm của mỗi người với đất nước từ đó nêu lên trách nhiệm của bản thân với đất nước.
- Điểm 0.75: Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị luận, chỉ phân tích đoạn thơ.
- Điểm 0: Xác định sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc sang vấn đề khác.
c. Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm , biết kết hợp giữa nêu luận điểm và phân tích luận điểm ....(3.5 điểm).
Điểm 3.5: Đảm bảo các yêu cầu trên; có thể trình bày theo định hướng sau:
- Giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm, nội dung đoạn trích.
- Phân tích đoạn thơ theo các ý sau:
- Đất nước hóa thân và kết tinh trong cuộc sống của mỗi người (câu 1,2) Sự sống mỗi cá nhân không phải chỉ riêng của mỗi cá nhân mà còn là của đất nước bởi mỗi cuộc đời đều được thừa hưởng những di sản văn hoá tinh thần và vật chất của dân tộc, của nhân dân.
- Mối quan hệ gắn bó sâu sắc giữa mỗi người với đất nước (câu 3,4,5,6) động từ "cầm tay" + các tính từ "hài hòa, nồng thắm", "vẹn tròn, to lớn" đi liền nhau + kiểu câu cấu tạo theo hai cặp đối xứng về ngôn từ ("Khi /Khi; Đất Nước / Đất Nước) đất nước là sự thống nhất hài hòa giữa tình yêu đôi lứa với tình yêu Tổ quốc, giữa cá nhân với cộng đồng.
- Niềm tin mãnh liệt vào tương lai tươi sáng của đất nước (câu 7,8,9).
- Trách nhiệm của cá nhân với đất nước (câu 10,11,12) giọng văn trữ tình kết hợp với chính luận + câu cầu khiến, + điệp ngữ "phải biết" + các động từ "gắn bó, san sẻ, hóa thân" ... đã cụ thể hoá trách nhiệm đối với đất nước lời kêu gọi trách nhiệm mang tính chính luận nhưng không mang tính chất giáo huấn mà rất trữ tình, tha thiết như lời tự dặn mình - dặn người của nhà thơ.
- Nhận xét, đánh giá: đây là một trong những đọan thơ hay trong "Đất Nước" của Nguyễn Khoa Điềm. Qua đọan thơ, nhà thơ đã giúp cho chúng ta hiểu hơn về sự gắn bó giữa mỗi người với đất nước. Từ đó, ý thức hơn về trách nhiệm của mỗi người với đất nước. Đồng thời, đoạn thơ cũng giúp ta hình dung được sức truyền cảm lớn từ sự hòa quyện của chất chính luận và chất trữ tình, suy tưởng và cảm xúc trong thơ của Nguyễn Khoa Điềm.
- Phát biểu suy nghĩ về trách nhiệm đối với đất nước (Học sinh có thể đưa ra những ý kiến riêng, trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần chân thành, thiết thực, hợp lí, chặt chẽ và thuyết phục).
- Tổng hợp ý, đánh giá ý nghĩa của vấn đề, liên hệ, mở rộng.
- Điểm 2,0: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên, song một trong các luận điểm còn chưa đầy đủ hoặc liên kết chưa thật chặt chẽ.
- Điểm 1.5: Đáp ứng 1/2 đến 2/3 các yêu cầu trên.
- Điểm 1.0: Đáp ứng được 1/3 các yêu cầu trên.
- Điểm 0: Không đáp ứng được bất kì yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.
---(Để xem tiếp đáp án những câu hỏi còn lại vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy)---
ĐỀ SỐ 3
Phần I: Đọc hiểu (2 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
... Tâm hồn em như búp nõn chồi non
Ánh mắt em như dòng suối mát
Chồi phải được chăm, suối cần giữ sạch
Mai lớn lên em làm chủ nước nhà
Biết phận, biết điều phải trái quanh ta
Biết sống nghĩa nhân căm phường gian ác
Biết vị tha, biết cho sau vì trước
Gạn đục khơi trong giữa hỗn tạp kim tiền...
(Lã Phương Thảo)
Câu 1 (1.0 đ): Hãy tìm các biện pháp nghệ thuật tu từ và chỉ rõ tác dụng của chúng trong văn bản trên?
Câu 2 (0.5 đ): Văn bản trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào?
Câu 3 (0.5 đ): Nêu nội dung của văn bản.
Phần II: Làm văn (8,0 điểm)
Câu 1: "Ai cũng muốn làm điều gì đó rất lớn lao, nhưng lại không nhận ra rằng cuộc sống được tạo thành từ những điều rất nhỏ"
Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến trên. (3 đ)
Câu 2: Cảm nhận của anh (chị) về ý thức phản kháng đối với số phận của nhân vật Mị trong tác phẩm "Vợ chồng A Phủ" của Tô Hoài. (5 đ)
---- HẾT ----
ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 3
Phần I: Đọc hiểu (2 điểm)
Câu 1 (1.0 đ):
- Biện pháp tu từ
- So sánh (Tâm hồn như búp nõn chồi non – Ánh mắt như dòng suối mát)
- Liệt kê (Biết phận, biết phần, phải trái, sống nghĩa nhân, căm gian ác, vị tha, cho sau, vì trước)
- Điệp từ (biết)...
- Tác dụng: Nhấn mạnh giá trị nhân cách sống của tuổi trẻ.
Lưu ý: Học sinh kể tên các biện pháp tu từ và có dẫn chứng, chỉ kể tên mà không có dẫn chứng (0.25 đ)
Câu 2: Văn bản thuộc PCNN nghệ thuật (0.5 đ)
Câu 3: Nội dung: Tâm hồn mỗi đứa trẻ luôn hồn nhiên, trong sáng, vì vậy cần phải vun trồng thật kĩ để các em trở thành những nhân cách tốt cho xã hội. (0.5 đ)
Phần II: Làm văn (8,0 điểm)
Câu 1
- Giải thích:
- "Ai cũng...lớn lao" -> khát vọng vươn tới cái đích của đời người làm thay đổi cuộc sống theo chiều hướng tốt đẹp hơn.
- "Nhưng lại...rất nhỏ" -> Không ý thức được rằng những việc lớn lao bao giờ cũng phải bắt đầu từ những việc nhỏ như những dòng sông tạo thành từ nhiều con suối.
- Phân tích:
- Ước mơ làm nên điều lớn lao là nguyện vọng chính đáng của con người cần được tôn trọng, động viên, khuyến khích nhưng phải luôn ý thức được rằng:
- Một nhân cách hoàn thiện vốn được bồi đắp từ những việc làm rất nhỏ, nhất là những hành vi đạo đức, lối sống. Ý nghĩa cuộc sống hình thành từ những điều đơn sơ, bình dị...
- Phê phán lối sống, cách nghĩ, lời nói ngụy biện vì những việc lớn mà quên việc nhỏ, muốn trở thành vĩ nhân mà quên đi con người bình thường.
- Mẹ là người sinh ra và nuôi dưỡng chúng ta. Luôn dạy dỗ trang bị cho con những kĩ năng cần thiết... hình thành cho con những phẩm chất đạo đức tốt.
- Bài học:
- Nhận thức sâu sắc rằng việc gì nhỏ mấy mà có ích thì kiên quyết làm...
- Thường xuyên rèn luyện đức tính kiên nhẫn, bắt đầu từ những việc làm nhỏ để hướng tới những việc lớn lao.
Câu 2: Cảm nhận về ý thức phản kháng đối với số phận của nhân vật Mị
I. Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm và nhân vật
- Tô Hoài là một trong những gương mặt tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam đương đại. "Vợ chồng A Phủ" là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của ông, được viết sau chuyến đi thực tế Tây Bắc năm 1953. Truyện được giải nhất cửa Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 - 1955.
- Tác phẩm là bức tranh bi thảm của người dân nghèo miền núi dưới ách áp bức, bóc lột của bọn phong kiến, thực dân và là bài ca về phẩm chất, vẻ đẹp, về sức sống mãnh liệt của người lao động. Nhân vật chính kết tinh được phẩm chất cao đẹp và thể hiện rõ giá trị hiện thực và tư tưởng nhân đạo của tác phẩm và nhân vật Mị.
II. Phân tích nhân vật Mị qua các chặng đường đời
1. Trước khi làm dâu gạt nợ, Mị là một cô gái hầu như tập trung được những vẻ đẹp tiêu biểu của người phụ nữ miền núi: Mị vừa đẹp người, vừa đẹp nết, cần cù, đảm đang, hiếu thảo, giàu đức hi sinh vị tha, ham sống, yêu đời và rất mực tài hoa.
2. Khi về làm con dâu cho nhà thống lí, Mị đã phản kháng bằng nước mắt: "Có đến hàng mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc". Cao hơn một mức nữa, Mị đã định tự hủy diệt cuộc đời mình bằng nắm lá ngón. Nhưng lòng hiếu thảo - vì thương bố còn khổ hơn bây giờ bao nhiêu lần, đã níu kéo Mị trở về kiếp sống ngựa trâu. Dưới mấy tầng áp bức của cường quyền, thần quyền, những hủ tục phong kiến nơi miền núi, Mị gần như tê liệt hết về sức sống, Mị thờ ơ với sự chảy trôi của thời gian, sắc màu cuộc sống của Mị trở nên mờ nhạt. Nó được biểu tượng bằng "Một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay", "lúc nào cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng". Mị trở thành con người cam phận sống cuộc sống "thân phận con rùa", "Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa".
3. Đoạn đời thứ 3: Sức sống của Mị trỗi dậy mãnh liệt trong đêm tình mùa xuân và hành động cởi trói cho A Phủ. Họ cùng nhau trốn khỏi Hồng Ngài, tìm đến khu du kích Phiềng Sa.
a. Mùa xuân về trên rẻo cao, đặc biệt là đêm tình mùa xuân với tiếng sáo, tiếng khèn của trai làng gọi bạn tình có ý nghĩa như "một hoàn cảnh điển hình" làm cho sức sống tiềm tàng trong con người Mị trỗi dậy một cách mãnh liệt.
- Ngày Tết, Mị cũng uống rượu: "Mị... cứ uống ừng ực từng bát. Rồi say". Với những tác động của ngoại cảnh và men rượu, Mị đã thoát khỏi tâm trạng dửng dưng bấy lâu để trở thành con người thức tỉnh, vươn tới những ý nghĩ và khát vọng đẹp đẽ. Chú ý phân tích diễn biến tâm lí của Mị trong đêm tình mùa xuân: "Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng" -> lòng Mị đang phơi phới sống về những ngày trước. Mị thấy "trong lòng đột nhiên vui sướng... Mị trẻ lắm... Mị muốn đi chơi" -> Ý thức về bản thân trỗi dậy, Mị phẫn uất mãnh liệt và thấm thía nỗi tủi nhục của mình, Mị muốn chết -> trong khi đó, tiếng sáo, biểu tượng của khát vọng tự do và tình yêu tuổi trẻ "đang rập rờn" trong đầu Mị -> Mị khêu to ngọn đèn cho sáng như thể khêu ngọn lửa của lòng ham sống, của sự khát khao -> Hành động này thúc đẩy hành động khác, không thể kìm nén được nữa. Nó là sự thôi thúc của trái tim như muốn phá vỡ những xiềng xích tàn bạo trong nhà thống lí Pá Tra, thách thức mọi ràng buộc khắt khe của nhà Pá Tra, của người chồng tàn ác: "Mị quấn lại tóc, với tay lấy chiếc váy hoa" chuẩn bị đi chơi ngày Tết. Nhưng giữa lúc lòng ham sống trong Mị trỗi dậy, dâng lên mãnh liệt như sóng trào thì cũng là lúc Mị bị vùi dập một cách khắc nghiệt, lạnh lùng. A Sử, chồng Mị thản nhiên "trói đứng Mị vào cột nhà" -> "Như không đang biết mình đang sợ bị trói... Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi", quên mọi đau đớn về thể xác, "Mị đã vùng dậy bước đi". Điều đó chứng tỏ sức sống tiềm ẩn trong con người Mị mãnh liệt biết nhường nào.
b. Sức sống trỗi dậy trong con người Mị còn được thể hiện rõ nét ở hành động cởi trói cho A Phủ, cùng nhau trốn khỏi Hồng Ngài
- Bên cạnh bếp lửa, nhìn thấy A Phủ bị trói đứng một cách thảm khốc, mấy đêm đầu Mị vẫn thản nhiên vì chuyện đánh người, trói người ở nhà Pá Tra xảy ra như cơm bữa. Vả chăng, Mị cũng chỉ là một nạn nhân bất lực.
- Nhưng đêm nay, dưới ánh lửa "bập bùng" trông thấy hai hàng nước mắt "lấp lánh" bò xuống hai hõm má đã "xám đen lại của A Phủ", Mị càng thương mình, càng thương người. Tình thương, niềm đồng cảm giữa những con người cùng cảnh ngộ ấy đã lấn át nỗi sợ và lớn hơn cái chết, nó đã dẫn đến hành động táo bạo: cắt dây trói giải thoát cho A Phủ, cùng nhau trốn khỏi Hồng Ngài.
---(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 3 vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy)---
Trên đây là một phần trích đoạn nội dung Bộ 3 đề thi thử THPT QG môn Ngữ văn năm 2021 Trường THPT Lương Văn Chánh. Để xem thêm nhiều tài liệu tham khảo hữu ích khác các em chọn chức năng xem online hoặc đăng nhập vào trang Hoc247.net để tải tài liệu về máy tính.
Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các em học sinh ôn tập tốt và đạt thành tích cao trong học tập.
Chúc các em học tập tốt !
Tài liệu liên quan
Tư liệu nổi bật tuần
-
Đề thi minh họa môn Hóa học tốt nghiệp THPT năm 2025
22/10/20242483 -
Đề thi minh họa môn Tin học tốt nghiệp THPT năm 2025
22/10/2024907 -
Đề thi minh họa môn Toán tốt nghiệp THPT năm 2025
22/10/20241803 - Xem thêm


