HOC247 xin cung cấp đến các em học sinh nội dung tài liệu Bộ 3 đề thi thử THPT QG năm 2021 môn Ngữ văn Trường THPT Hướng Phùng được sưu tầm và tổng hợp với các câu hỏi từ dễ đến khó sẽ giúp các em ôn luyện kiến thức thật hiệu quả. Mời các em cùng theo dõi.
|
TRƯỜNG THPT HƯỚNG PHÙNG |
ĐỀ THI THỬ THPT QG MÔN: NGỮ VĂN NĂM HỌC: 2021 (Thời gian làm bài: 120 phút) |
ĐỀ SỐ 1
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích dưới đây và thực hiện các yêu cầu:
(1) Trào lưu “Like là làm” đang gây cơn sốt trong giới trẻ. Trước đó, mở đầu trào lưu này là sự việc một chàng trai có tài khoản Facebook N.T đăng chia sẻ: “Bức hình này đủ 40.000 like sẽ đổ xăng từ trên người xuống, lấy hộp quẹt tự đốt người rồi nhảy cầu Tân Hóa! Đủ like sẽ làm, tôi nói là làm. Share mạnh để có cái hay hấp dẫn mà xem”.
Bài viết thu hút gần 100.000 like (thích) cùng hàng nghìn bình luận cổ vũ lẫn thách thức.
Giữ đúng lời hứa “nói là làm”, tối ngày 20/9, N.T này có mặt tại cầu Tân Hóa (TP.HCM) thực hiện thử thách. Được biết, sau khi tẩm xăng đốt, do kịp thời nhảy xuống dòng kênh ngay cạnh nên N.T chỉ bị bỏng nhẹ.
Tiếp đó, hàng loạt người trẻ khác đua nhau đăng status (dòng trạng thái) thách thức dân mạng theo cú pháp quen thuộc: “Chỉ cần đủ like tôi sẽ…” và khẳng định chắc nịch “nói là làm”.
Một số thanh niên sẵn sàng đổi like lấy những hành động gây sốc như: mặc đồ lót, nhảy xuống và uống hết một ca nước sông, mặc quần áo con gái đi ra đường…
(2) Xung quanh vấn đề này, dưới góc nhìn của một nhà văn, Trang Hạ chia sẻ: “Tôi không ngạc nhiên với sự ngông cuồng của một bộ phận thanh niên trên mạng. Tuy nhiên tôi vẫn phải kinh hãi trước những hành vi thiếu nhân văn của người biết bấm like này.
(3) Trang Hạ cho rằng, không bố mẹ nào đẻ con ra với mục đích con sống cho người ta bấm like. Vậy thì tại sao người trẻ lại dùng like làm thước đo của cuộc sống? Nhân tiện, làm luôn thước đo của việc tự thiêu hay những việc như đốt trường, chạy truồng… Hóa ra nhân cách và trí tuệ chỉ dành để trang trí, còn giá trị sống của bạn là mong người ta bấm like?
(Theo Minh Giang, Trào lưu “Like là làm”: Nhân cách, trí tuệ chỉ dành để trang trí?, Báo điện tử Vietnamnet, ngày 14 tháng 10 năm 2016)
Câu 1. Xác định cách trình bày đoạn văn ở đoạn (1)? (0,5 điểm).
Câu 2. Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích (0,5 điểm).
Câu 3. Nhà văn Trang Hạ đã dùng những từ ngữ nào để nhận xét về hành vi của những người liên quan đến hiện tượng xã hội được đề cập trong đoạn trích trên? Theo anh (chị), nhà văn bộc lộ quan điểm, thái độ gì khi sử dụng những từ ngữ đó? (1,0 điểm).
Câu 4. Anh (chị) rút ra bài học gì sau khi đọc xong đoạn trích trên? (1,0 điểm).
II. Phần Làm văn (7,0 điểm)
Câu 1. Anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về trào lưu “Like là làm”được đề cập trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu (2 điểm)
Câu 2: Cảm nhận của anh/chị về hình ảnh người đàn bà hàng chài trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” – Nguyễn Minh Châu. (5 điểm)
---- HẾT ----
ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 1
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
1.
Cách trình bày đoạn văn ở đoạn (1): diễn dịch.
2.
Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích: nghị luận.
3.
- Những người liên quan đến hiện tượng được đề cập trong đoạn trích là: những thanh niên câu like và những người bấm like. Những từ ngữ được Trang Hạ sử dụng: “ngông cuồng” (để nói về hành vi của “một bộ phận thanh niên trên mạng”) và từ “thiếu nhân văn” (để nhận xét hành vi của “những người bấm like”). (0,5 điểm).
- Qua đó, nhà văn bộc lộ thái độ phê phán, bất bình với những hành vi trên.
4.
Học sinh rút ra bài học bổ ích cho mình sau khi đọc đoạn trích. Có thể là những bài học như sau:
- Cần cảnh giác, tỉnh táo trước những trào lưu nguy hiểm trên mạng xã hội; tránh a dua học đòi, mù quáng, gây sốc.
- Cần phê phán những “anh hung bàn phím”, những kẻ hiếu kì dung nút like để kích động người khác thực hiện những hành vi xấu, dại dột,…
- Phấn đấu tích cực trong mọi hoạt động có ý nghĩa để khẳng định giá trị đích thực của bản thân.
II. LÀM VĂN
Câu 1:
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn
Thí sinh có thể trình bày đoaṇ văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoăc̣ song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Luôn làm chủ bản thân, làm chủ hoàn cảnh sống chân thành, có bản lĩnh, có ý chí, nghị lực; luôn lạc quan và hướng tới những điều tích cực, tốt đẹp trong cuộc sống.
c. Triển khai vấn đề nghị luận
Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghi luâṇ theo nhiều cách nhưng có thể theo hướng sau:
* Giải thích:
- Hiện tượng “Like là làm” là một hình thức “câu” like người đăng bài viết ra yêu cầu đủ số like (hoặc share) nhất định sẽ thực hiện một hành động nào đó như: châm xăng tự đốt, mặc đồ lót, nhảy xuống và uống hết một ca nước sông, mặc quần áo con gái đi ra đường…
* Thực trạng:
- Gần đây trào lưu “Like là làm” đang gây cơn sốt trong giới trẻ, mở đầu trào lưu này là sự việc một chàng trai có tài khoản Facebook N.T đăng chia sẻ: “Bức hình này đủ 40.000 like sẽ đổ xăng từ trên người xuống, lấy hộp quẹt tự đốt người rồi nhảy cầu Tân Hóa! Đủ like sẽ làm, tôi nói là làm. Share mạnh để có cái hay hấp dẫn mà xem”.
- Bài viết thu hút gần 100.000 like, “nói là làm”, tối ngày 20/9, N.T này có mặt tại cầu Tân Hóa (TP.HCM) thực hiện thử thách. Được biết, sau khi tẩm xăng đốt, do kịp thời nhảy xuống dòng kênh ngay cạnh nên N.T chỉ bị bỏng nhẹ….
- Nhà văn, Trang Hạ không ngạc nhiên với sự ngông cuồng của một bộ phận thanh niên, nhưng kinh hãi trước những hành vi thiếu nhân văn của người biết bấm like, dùng like làm thước đo của cuộc sống.
* Nguyên nhân:
- Do sự lệch lạc trong suy nghĩ của giới trẻ, muốn thể hiện bản thân, chơi ngông, nhanh chóng được nổi tiếng hoặc thiếu tự tin, thếu bản lĩnh ngoài thực tế dẫn đến sống ảo…
- Do đám đông vô cảm, vô tâm, vô tình, like không chỉ là ủng hộ mà châm dầu vào lửa, thách thức để xem thử mày làm thế nào? Có dám không? Có giữ lời hứa không?...
---(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 1 vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy)---
ĐỀ SỐ 2
I. ĐỌC HIỂU ( 3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi:
“Khi đã khai phóng được bản thân, con người sẽ tìm ra chính mình ở hai khía cạnh quan trọng nhất: con người văn hóa và con người chuyên môn của mình.
Ở khía cạnh con người văn hóa, đó là việc tìm ra được đâu là lương tri và phẩm giá của mình, đâu là lẽ sống và giá trị sống của mình; đâu là những giá trị làm nên chính mình, là những thứ mà vì nó hay để bảo vệ nó, mình sẵn lòng hi sinh mọi thứ khác; đâu là “chân ga” (để giúp mình vượt qua bao đèo cao) và đâu là “chân thắng” (để giúp mình không rơi xuống vực sâu).
Ở khía cạnh con người chuyên môn (hay con người công việc, nghề nghiệp, sự nghiệp), đó là việc tìm ra mình thực sự thích cái gì, mình giỏi cái gì, hiểu được mình giỏi đến mức độ nào để đặt mình vào một công việc phù hợp nhất với “cái chất” con người mình. Khi làm công việc mà mình giỏi nhất, mê nhất và phù hợp với “cái chất” con người của mình nhất thì khi đó làm việc cũng là làm người, khi đó mình làm việc nhưng cũng là sống với con người của mình.”
(Đúng việc, một góc nhìn về câu chuyện khai minh- Giản Tư Trung, NXB Tri Thức - 2015)
Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào?
Câu 2. Tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào?
Câu 3. Theo tác giả, thế nào là con người văn hoá?
Câu 4. Vì sao tác giả coi khía cạnh con người văn hoá vừa là “chân ga” (để giúp mình vượt qua bao đèo cao) và vừa là “chân thắng” (để giúp mình không rơi xuống vực sâu)?
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến được nêu ra trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu: “Khi làm công việc mà mình giỏi nhất, mê nhất và phù hợp với “cái chất” con người của mình nhất thì khi đó làm việc cũng là làm người, khi đó mình làm việc nhưng cũng là sống với con người của mình.”
Câu 2 (5,0 điểm)
Anh/ chị hãy phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ Việt Bắc (Tố Hữu) để làm sáng tỏ tính dân tộc đậm đà - một trong những nét nổi bật của phong cách thơ Tố Hữu:
“Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
(Việt Bắc - Tố Hữu, Ngữ văn 12, tập 1, NXB Giáo dục, 2007, tr 111)
---- HẾT ----
ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 2
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
1.
Phong cách ngôn ngữ chính luận
2.
Thao tác lập luận phân tích
3.
Con người văn hóa: tìm ra được lương tri và phẩm giá của mình, lẽ sống và giá trị sống, những giá trị làm nên chính mình...
4.
Vì:
- Nếu ví von cuộc đời như một chiếc xe thì lương tri, phẩm giá, lẽ sống, giá trị sống,... sẽ vừa là “chân ga”, vừa là “chân thắng” của chiếc xe đó.
- Chính cái “chân ga” này sẽ giúp cho “chiếc xe cuộc đời” có thể dám đương đầu và vượt qua những trở lực, khó khăn, nguy hiểm; là động lực không bao giờ cạn giúp con người đạt được mục đích mà mình theo đuổi.
- Cũng chính cái “chân thắng” này là lực cản giúp ta không lầm lạc trên đường đời, vượt qua những cám dỗ, dục vọng tầm thường, tự chiến thắng bản thân mình.
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1:
Yêu cầu về hình thức:
- Viết đúng 01 đoạn văn khoảng 200 từ
- Trình bày mạch lạc, rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu…
Yêu cầu về nội dung:
Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần đạt các ý sau:
* Giải thích: Điều quan trọng nhất ở khía cạnh con người chuyên môn là làm việc gì mình giỏi nhất (đúng sở trường, phát huy được năng lực), mê nhất (thực sự đam mê, yêu quý nghề nghiệp ấy), phù hợp với mình nhất và khi đó con người sẽ tìm ra chính mình.
* Bàn luận:
- Con người sẽ không tìm được chính mình, không tạo nên được giá trị sống nếu không làm việc. Làm việc mà không có lý tưởng nghề nghiệp, không đam mê cũng giống như sống mà không có mục đích. Bởi vì sự lựa chọn của mỗi người trong từng công việc/ nghề nghiệp sẽ làm nên gương mặt cuộc đời họ.
- Khi đã làm được công việc mà mình giỏi nhất, mê nhất và phù hợp với “cái chất” con người của mình nhất (nghĩa là đã tìm ra chính mình) thì mỗi người phải luôn luôn phấn đấu để tạo ra giá trị nhiều nhất cho xã hội.
* Liên hệ: thực trạng chọn nghề của thanh niên ngày nay
* Bài học nhận thức và hành động: Nêu quan điểm định hướng nghề nghiệp của bản thân, có thể theo hướng:
+ Mình thực sự thích cái gì, mình giỏi cái gì, sở trường của bản thân là gì, hiểu được và tin là mình giỏi đến mức độ nào?...
+ Mình có thể phát huy năng lực ở lĩnh vực nào, nghề nghiệp nào?
Câu 2:
a. Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác giả, đoạn trích, vấn đề nghị luận:
- Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại với phong cách thơ trữ tình - chính trị, mang khuynh hướng sử thi và tính dân tộc đậm đà.
- Việt Bắc là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp, cũng là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu, ra đời vào tháng 10 năm 1954 (nhân sự kiện lịch sử Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Thủ đô). Tác phẩm là khúc hùng ca và tình ca về cách mạng.
- Đoạn thơ là ấn tượng không thể phai mờ của người kháng chiến về cảnh và người Việt Bắc và đã thể hiện đậm nét tính dân tộc đậm đà - một trong những nét nổi bật của phong cách thơ Tố Hữu.
b. Thân bài:
* Giải thích:
- Tính dân tộc là phạm trù tư tưởng - thẩm mĩ, thể hiện sự gắn bó khăng khít giữa văn nghệ và dân tộc.
- Tính dân tộc trong văn học được thể hiện ở hai mặt nội dung và hình thức nghệ thuật.
+ Nội dung: Đề cập đến những vấn đề liên quan đến tư tưởng , tình cảm và phẩm chất của dân tộc, cách giải quyết vấn đề đó trên cơ sở vì quyền lợi dân tộc.
+ Hình thức: Sử dụng ngôn ngữ dân tộc, kế thừa và phát huy có tính sáng tạo truyền thống văn học dân tộc.
* Thành công của Tố Hữu qua đoạn trích:
- Nội dung: Đoạn thơ là bức tranh tứ bình dệt bằng ánh sáng của hoài niệm về thiên nhiên và con người Việt Bắc trong kháng chiến. Qua đó, tác giả thể hiện tình yêu thiên nhiên tươi đẹp, tình yêu cuộc sống và con người Việt Bắc. Đó là biểu hiện của tình yêu nước và tình yêu cách mạng.
+ Hai câu đầu khái quát cảm xúc cho toàn bộ đoạn thơ.
+ Tám câu còn lại vẽ nên bức tranh tứ bình tuyệt đẹp: Thiên nhiên hiện lên với bao vẻ đẹp đa dạng, phong phú, sinh động, thay đổi theo từng mùa. Mùa đông ấm áp trong gam màu nóng của những bông hoa chuối rừng đỏ tươi. Mùa xuân thơ mộng với bạt ngàn hoa mơ. Hè sang bởi tiếng ve kêu báo hiệu và rừng phách ào ạt đổ vàng. Mùa thu thanh bình, êm ả với ánh trăng xanh huyền diệu. Gắn bó với từng khung cảnh ấy là hình ảnh những con người bình dị: người đi làm nương rẫy, người đan nón, người hái măng...với vẻ đẹp khỏe khoắn, khéo léo, cần cù, duyên dáng...
- Nghệ thuật
+ Thể thơ lục bát
+ Lời đối đáp
+ Cách xưng hô mình - ta
+ Ngôn từ mộc mạc, bình dị, giàu sức gợi, giàu nhạc điệu, nhuần nhị và tinh tế,...
+ Giọng điệu trữ tình, tha thiết...
---(Để xem đầy đủ đáp án của những câu còn lại vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy)---
ĐỀ SỐ 3
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
Loài người không được cho sẵn bất cứ cái gì trên mặt đất này. Tất cả những gì anh ta cần – anh ta phải làm ra chúng. Và ở đây loài người đối mặt với sự lựa chọn cơ bản nhất của mình: anh ta chỉ có thể tồn tại được theo một trong hai cách – bằng cách làm việc độc lập với bộ óc của riêng anh ta, hay là trở thành một kẻ ăn bám nhờ bộ óc của những người khác. Người sáng tạo chọn cách thứ nhất. Kẻ ăn bám thì chọn cách thứ hai. Người sáng tạo một mình đối mặt với tự nhiên. Kẻ ăn bám đối mặt với tự nhiên thông qua những trung gian.
Mối quan tâm của người sáng tạo là chinh phục tự nhiên. Còn mối quan tâm của kẻ ăn bám là chinh phục con người.
Người sáng tạo sống với lao động của mình. Anh ta không cần ai khác. Mục đích cơ bản của anh ta là chính bản thân anh ta. Kẻ ăn bám sống cuộc đời thứ cấp. Anh ta cần những người khác. Những người khác trở thành động lực chính của anh ta.
(Trích tiểu thuyết Suối nguồn, Ayn Rand, NXB Trẻ, TP HCM, 2017, tr.1174)
Câu 1. (0.5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên.
Câu 2. (0.5 điểm) Anh( chị ) hiểu câu: “ Mối quan tâm của người sáng tạo là chinh phục tự nhiên” như thế nào?
Câu 3. (1,0 điểm) Theo anh (chị) việc tác giả khẳng định: “Loài người không được cho sẵn bất cứ cái gì trên mặt đất này. Tất cả những gì anh ta cần – anh ta phải làm ra chúng” có ý nghĩa gì?
Câu 4. (1,0 điểm) Anh (chị) có đồng tình với ý kiến: Người sáng tạo sống với lao động của mình. Anh ta không cần ai khác. Vì sao?
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh (chị) hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về hậu quả của lối sống ăn bám.
Câu 2. (5 điểm)
Cảm nhận của anh/ chị về đoạn thơ sau, từ đó nhận xét về phong cách trữ tình- chính trị trong thơ Tố Hữu.
“Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”
(Việt Bắc -Tố Hữu)
---- HẾT ----
ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 3
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
1.
- Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên là: Nghị luận.
2.
Câu: “Mối quan tâm của người sáng tạo là chinh phục tự nhiên”có nghĩa là: Người sáng tạo luôn khát khao tìm kiếm, khám phá thế giới xung quanh, đặc biệt là thế giới tự nhiên để phục vụ đời sống con người.
3.
Việc tác giả khẳng định: “Loài người không được cho sẵn bất cứ cái gì trên mặt đất này. Tất cả những gì anh ta cần – anh ta phải làm ra chúng” có ý nghĩa:
HS có thể theo gợi ý sau:
- Con người cần phải lao động, sáng tạo để tồn tại.
- Nhắc nhở mỗi người không ngừng nỗ lực phát huy bản thân để cuộc sống có ý nghĩa.
4.
Thí sinh có thể đồng tình, không đồng tình, hoặc đồng tình một phần nhưng phải có lí giải hợp lí, thuyết phục.
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1:
a. Viết đúng bố cục của một đoạn văn khoảng 200 chữ. Trình bày mạch lạc rõ ràng, không sai lỗi chính tả, dùng từ đặt câu.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận:
Hậu quả của lối sống ăn bám. Khuyến khích sự sáng tạo của thí sinh khi viết đoạn văn.
c. Triển khai vấn đề nghị luận:
Thí sinh lựa chọn các thao thác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ hậu quả của lối sống ăn bám.
Có thể theo hướng sau:
- Lối sống ăn bám là một thói tật của con người, là khi con người sống dựa dẫm, phụ thuộc, kí sinh, lợi dụng người khác để mưu lợi cho bản thân mình.
- Khi sống theo kiểu ăn bám, con người thường có thái độ ỷ lại, thiếu tự lập, không có kĩ năng sống, không đủ sức đề kháng với những thử thách trong cuộc đời.
- Khi sống theo kiểu ăn bám, con người hạ thấp giá trị, nhân cách, dễ đánh mất cái tôi của mình.
- Một xã hội tồn tại nhiều kẻ ăn bám, xã hội không thể phát triển.
d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2:
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề gồm nhiều ý/đoạn văn, kết bài kết luận được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
c. Triển khai vấn đề nghị luận
1. Giới thiệu chung:
- Giới thiệu khái quát về tác giả Tố Hữu: là một nhà thơ lớn, một nhà thơ trữ tình chính trị, thơ ông luôn phản ánh những chặng đường đấu tranh gian khổ song cũng nhiều thắng lợi của dân tộc.
- Giới thiệu tập thơ Việt Bắc, bài thơ Việt Bắc;
- Nêu vấn đề cần nghị luận
2. Giải quyết vấn đề nghị luận:
a. Khái quát sơ lược về tác phẩm đoạn thơ cần cảm nhận:
- Việt Bắc là một địa danh – là cái nôi của cách mạng Việt Nam tiền khởi nghĩa, là cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp.
- Việt Bắc là nơi lưu giữ nhiều kỉ niệm giữa cán bộ cách mạng và đồng bào nơi đây.
Cảm nhận đoạn thơ:
* 4 câu đầu là khúc dạo đầu ân tình chung thuỷ, niềm trăn trở nhớ thương của người Việt Bắc:
- Mở đầu là một câu hỏi ngọt ngào bâng khuâng khi hướng về thời gian: “Mình về mình …nhìn sông nhớ nguồn”.
+ Mình và ta là những đại từ nhân xưng quen thuộc trong ca dao xưa, là cách xưng hô bình dị, thương mến vô cùng của tình yêu đôi lứa. Hai câu hỏi trong đoạn mở đầu đã gợi nhắc tới những câu ca dao nói về cảnh chia tay bịn rịn nhớ nhung của lứa đôi: mình về có nhớ ta chăng – ta về ta nhớ hàm răng mình cười; Bao giờ chạch đẻ ngọn đa, sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình…
+ Tố Hữu đã mượn một hình thức ngôn từ quen thuộc của văn hoá dân gian để gửi gắm những nội dung tình cảm lớn lao của thời đại mới; những câu ca ngọt ngào của tình yêu đã trở thành những câu hỏi xao xuyến của nghĩa tình cách mạng, thể hiện nỗi nhớ nhung của người ở lại với người về xuôi.
- Hai câu tiếp là câu hỏi hướng về không gian: Mình về…nhớ nguồn
+ Hai vế của câu thơ đan xen những hình ảnh của cả miền xuôi như cây, sông và miền núi như núi, nguồn. Hoàn cảnh chia xa, nồi nhớ và sự gắn bó khăng khít đã hiện ngay trong cả chia tách và đan xen hoà quyện của ngôn từ. Nhìn cây, nhìn sông là những hình ảnh nhắc tới một thực tế chắc chắn trong tương lai khi người kháng chiến đã về xuôi, đã sống với quê hương, với đồng bằng, vì thế cũng có thể coi là biểu tượng cho việc trở về của người kháng chiến với chốn đô hội phồn hoa; còn nhớ núi, nhớ nguồn là để tâm hồn trở về với quá khứ, với Việt Bắc, điều này có xảy ra hay không còn tuỳ thuộc vào sự thuỷ chung của người ra đi.
+ Tố Hữu đã khơi rất sâu vào nguồn mạch đạo lý ân nghĩa thủy chung của dân tộc để thể hiện tình cảm cách mạng. Mười lăm năm ấy là trở về với cội nguồn những năm tiền khởi nghĩa sâu nặng biết bao ân tình.
- 4 câu thơ điệp lại 4 chữ mình, 4 chữ “nhớ”, 1 chữ ta hòa quyện, 1 câu hỏi về thời gian (15 năm…) một câu hỏi về không gian (nhìn cây…). Khổ thơ ngắn nhưng đã dồn góp lại cả một thời cách mạng.
* 4 câu tiếp là cảnh tiễn đưa bâng khuâng trong nỗi lưu luyến nhớ nhung của người đi kẻ ở:
- Câu thơ đầu nhắc tới Tiếng ai tha thiết bên cồn cho thấy những nhớ nhung xao xuyến, những day dứt trăn trở trong lòng người ở lại đã được người ra đi thấu hiểu, cảm nhận.
- Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi: Sự đăng đối trong hai vế câu thơ đã góp phần thể hiện sự đăng đối đồng điệu trong cảm xúc con người. Bâng khuâng là từ láy gợi ra những trạng thái cảm xúc mơ hồ khó tả bởi sự đan xen buồn vui, luyến tiếc, nhớ nhung khiến con người như ngơ ngẩn. Bồn chồn là tâm trạng thấp thỏm nôn nao khiến con người không yên, tuy cũng là từ láy miêu tả trạng thái cảm xúc nhưng bồn chồn nhiều khi không dừng lại ở những nỗi niềm trong tâm tưởng mà còn có thể hiện trong ánh mắt, dáng vẻ, hành động…
- Hình ảnh hoán dụ về chiếc áo chàm vừa gợi ra trang phục đặc trưng của người Việt Bắc vừa khắc hoạ tính cách mộc mạc, tấm lòng son sắt của họ với cách mạng, với kháng chiến. Câu thơ đồng thời cho thấy sự xót xa và niềm cảm phục, thương mến của người đi với những người Việt Bắc.
- Cầm tay nhau…hôm nay:gợi sự quyến luyến không nỡ rời, xúc động nghẹn ngào nói không nên lời trong lòng người về xuôi.Tình cảm cồn cào bối rối ấy làm thay đổi cả nhịp thơ. Tiết tấu 2/2 của nhịp lục bát bỗng xao động trong nhịp 3/3/2 diễn tả thật đắt tấm lòng người đi với người ở lại. Dấu chấm lửng như khoảng trống khó lấp đầy, sự im lặng hàm chứa bao xao xuyến khôn.
c. Nhận xét phong cách trữ tình- chính trị trong thơ Tố Hữu
- Nhà thơ chọn thời điểm lịch sử mang tính bước ngoặt của đời mình, cũng là của dân tộc để rung cảm thành thơ. Tình cảm thuỷ chung cách mạng được hoà điệu trong ngôn ngữ gần gũi, hình ảnh tươi sáng…làm nên tính dân tộc đậm đà.
---(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 3 vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy)---
Trên đây là một phần trích đoạn nội dung Bộ 3 đề thi thử THPT QG môn Ngữ văn năm 2021 Trường THPT Hướng Phùng. Để xem thêm nhiều tài liệu tham khảo hữu ích khác các em chọn chức năng xem online hoặc đăng nhập vào trang Hoc247.net để tải tài liệu về máy tính.
Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các em học sinh ôn tập tốt và đạt thành tích cao trong học tập.
Chúc các em học tập tốt !
Tài liệu liên quan
Tư liệu nổi bật tuần
-
Đề thi minh họa môn Hóa học tốt nghiệp THPT năm 2025
22/10/20242483 -
Đề thi minh họa môn Tin học tốt nghiệp THPT năm 2025
22/10/2024907 -
Đề thi minh họa môn Toán tốt nghiệp THPT năm 2025
22/10/20241803 - Xem thêm


